= BỎ MỨA

By Hải Xuân

Bóc linh hồn ta làm bánh

bán rong chơi... cả mớ ế - thiu - ôi                         

bởi trước đó đã vô tư dâng cho “thần thánh”

các ngài xơi ngon ta tuổi đôi mươi

 

tấm bánh hồn giờ đây ê ế chảy

định luộc bày sàng rao bán lại

nhưng lương tâm không cho ta làm bậy

chẳng thể lọc lừa dối trá điêu ngoa

 

muốn đổ quách đi... đổ đi lại tiếc

đành dằn lòng lay lắt gió đà đưa

còn lại chút đời ta bỏ mứa

ruồi bâu

                       H X H

More...

Nói với Hồ Tây

By Hải Xuân

                             Hoa may.jpg

Em lên ở Hồ Tây

làm sao anh với tới

đành se mơ thành sợi

thả diều mình lên mây

 

mơ về miền cổ tích

cánh sâm cầm sải bay

sóng hồ miên man say

tan bờ anh lau sậy

 

lời thơ đằm ấm vậy

để anh trơ... ước thèm

ngọn gió nào ngang chen

đẩy anh xa xa mãi

 

anh bờ đê hoang dại

buông liễu gió bồn chồn

sóng hồ xô lấp lóa

in chiếc lá vàng rơi

 

câu thơ lưng chừng trời

tưởng với tay cầm được

hóa la đà giọt nước

càng hứng càng chơi vơi

           HXH

More...

Thơ thẩn mãi cũng nhạt. Thư giãn chút chút

By Hải Xuân

alt

Người ta thể dục chạy qua

hai anh hốt hoảng xô va đổ bàn

nếu người ta diễn tiếp màn

khéo hai anh bỏ tắp làng chạy theo  

More...

= Thơ

By Hải Xuân


alt

Gửi người đi Cao Bằng

Người đi

                 vui thú Cao bằng

rớt ta ở lại giăng giăng chiều buồn

ngoài trời

                   chẳng bão mưa tuôn

mà lòng phấp phỏng bồn chồn không yên

tưởng rằng xa

                          tưởng rằng quên

Cao Bắng chẳng chút nước non nơi mình

hừng đông...

                     mãi chửa bình minh

trách con sáo đá đầu đình mải vui

vườn thu

                nhẹ gót mây trôi

cành bàng trút lá rớt trôi mảnh buồn

người vui

                Bản Giốc Động Ngườm

mặc ta đứng trước Hồ Gươm dạt dào

Cao Bằng

                rừng rộng núi cao

còn không thác nước ngọt ngào phần ta                   

                              H X H

More...

= Lọ Lem trở về

By Hải Xuân

DSC_0065.JPG

Ảnh: Lưu Quốc Hòa

Lọ Lem trở về

                               Tặng Thủy Nguyên

 

Em trở về với Hà Nội thân thương

mây chẳng thể ngăn đường mà Cấm Chỉ

gió chẳng thể Hàng Than nghẽn dốc

như trong mơ em gặp lại phố phường

 

Sau bao năm xa xứ tha hương

em bồi hồi rạo quanh lối cũ 

tìm ly cà phê rót buồn phố cổ

chen giữa dòng người chật lấn ngã tư

 

đêm nhẹ gót dọc đường Nguyễn du

hồ Thiền Quang tìm hương hoa sữa

ngắm hàng cây đã thành cổ thụ

vươn cành chới với trời xanh

 

Bạn bè xưa nhiều người thành tỉ phú

em ngơ ngác mắt nai   

chìm trong xanh mơ khói thuốc

gió… lay một tiếng thở dài…

 

              Hàng Bài 26/3/2011

                        HXH

More...

= Không vay tôi vẫn trả đời - phê bình

By Hải Xuân

alt

Thi sỹ Nguyễn Nguyên Bảy cùng vợ là thi sỹ Lý Phương Liên

Không Vay Tôi Vẫn Trả Đời…
Thơ Hoàng Xuân Họa


Nguyễn Nguyên Bảy đò đưa

 

1.Không biết đây có phải là bài thơ hay nhất của thi nhân Hoàng Xuân Họa? Dù chưa phải thì với tôi đây vẫn là bài thơ hay rất hay và nếu được đề cử tôi xin được đề cử một phiếu vào danh sách những bài thơ bất hủ của thi đàn Việt. Tôi chỉ hơi tiếc cho câu kết / Không vay tôi vẫn trả đời/ Tôi khờ/ Tôi dại/ Tôi người/ Trắng tay / Đã bảo rằng mình không vay gì của đời mình vẫn tự nguyện trả cho đời tất cả những gì tốt đẹp nhất mình có thể có có thể nghĩ có thể làm thì sao còn than là mình khờ mình dại mình là người trắng tay. Câu kết này làm hỏng phần nào đó cái cao cả cao thương của mình làm câu thơ chìm xuống làm vơi đi cái hào sảng của một người tử tế nhân hậu. Và thêm câu kết chưa thật thích này là câu bát tác giả cao hứng nhấn mạnh bằng cách cắt nhịp hai chữ chủ ý phá thể lục bát nhưng phá thể chưa chuẩn nghĩa lẽ ra nên: Tôi khờ/ Tôi dại/ Tôi người…trắng tay/ Thật tiếc. Tuy nhiên toàn bài xán lạn vồ cùng cao đẹp vô cùng. Mời cùng đọc trọn bài Trả Nợ 1

/ Tôi xin trả gió cho mây/ Trả sông cho suối trả cây cho rừng/ Tháng năm xuôi ngược đã từng/ Trả muối cho mặn trả gừng cho cay./

/ Đời vơi đong đủ cho đầy/ Trả tối cho sáng trả ngày cho đêm/ Trả thương cho nhớ dài thêm/ Trả thuyền cho bến bậc thềm cho trăng./

/ Trót vay chút tím bằng lăng/ Tôi trồng trả phố xanh bằng hàng lim/ Trả mất cho kẻ đi tìm/ Trả cành cho lá cánh chim trả trời./

/ Không vay tôi vẫn trả đời/ Tôi khờ/ Tôi dại/ Tôi người/ Trắng tay/

2. Thi nhân Hoàng Xuân Họa sinh năm 1939 là người lính thời chống Mỹ một người lính ngoài súng đạn còn mang  thơ “Trong ba lô ra trận” (chữ thơ Nguyễn Khôi) đủ biết người lính-nghệ sĩ này yêu thơ biết là ngần nào. Chúng tôi quen nhau trên mạng và anh đã gửi cho tôi những trang sổ tay cháy xém lửa đạn chiến trướng chép tay những vần thơ anh yêu thich. Thực lòng khi đọc những dòng sổ tay cháy xém đó tôi đã không cầm nước mắt.Sau này thân nhau hơn anh gửi tặng tôi hai tập thơ Trót Một Thời Yêu 1 và 2. Tôi vồ vập đọc hy vọng tìm thấy hình ảnh người lính rung vang trong thơ anh là tiếng thét xung phong là lời nhắn lại đồng đội trước khi nhắm mắt kể cả lời hùng anh hay thù hận của máu và nước mắt…Nhưng những chờ đợi và hy vọng ấy đã không thấy hầu như cả hai tập thơ anh đều như giữ lại cho riêng mình những trang thơ về người lính. Tôi không dám trách chỉ thấy tiếc và hy vọng sẽ được đọc trong những tập thơ sau.

Thần tượng của đời tôi trên mọi phương diện cả phương diện thơ là Người Lính của thời tôi thời đánh Pháp đánh Mỹ. Trong lòng tôi đó là người anh hùng bất phân  biệt người đó là tướng hay chỉ là binh nhì binh nhất. Tôi suốt đời noi theo thần tượng của mình mà sống mà tu thân. Vì lẽ đó tôi chờ đợi những vần thơ của người lính chỉ các anh mới viết trung thực nhất đúng nhất về cuộc chiến tranh nghiêng trời lệch đất của chúng ta. Bởi các anh đã mang thơ đến tận cõi chết và trở về cõi sống hát ca. Thưa anh lính thi nhân Hoàng Xuân Họa chúng tôi chờ đọc những bài thơ cháy xém bom đạn chiến trường của anh đề tài này dù bao nhiêu năm nữa cũng không là xưa cũ…

3. Chưa được đọc thơ lính thơ chiến tranh thì ta đọc thơ yêu của Hoàng Xuân Họa vậy. Tôi dùng hai chữ Thơ Yêu thay hai chữ Thơ Tình để tránh ngộ nhận là thơ người lính thơ chiến tranh không là thơ tình. Đã là thơ thì viết về đề tài nào chẳng chữ tình là bản chất.Tôi dùng hai chữ Thơ Yêu để khu vực thơ Hoàng Xuân Họa trong phạm vi tình yêu trai gái. Xin bắt đầu thơ yêu với Áo Mường 

/ Ngực em chót vót Ba Vì/ Làm tôi chết đứng một thì trẻ trai/ Lưng ong vời vợi ban mai/ Làm tôi quên khuấy đường dài về quê/ Váy chàm quét mướt triền đê/ Cỏ vô phong bỏ bùa mê tôi rồi/ Hai hàng khuy bướm sóng đôi/ Tôi-người lúng túng giữa trời áo em…/

Bảo rằng các cô gái Mường có bùa yêu là cỏ vô phong động đao là loài cỏ không có gió vẫn động chỉ hai nhánh ngày nớ ra và tối khép lại ôm nhau có bùa yêu này các cô gái bỏ bùa yêu…Thì cứ cho là vậy cứ tin là vậy nhưng thực chẳng vậy các cô gái Mường bỏ bùa yêu bằng cánh áo cài hờ hàng khuy quân tử bất kỳ chẳng cứ trai Mường hay trai Kinh mà hễ cứ là nam nhi thì đều dùng dằng bỏ đi sao đành. Hoàng Xuân Họa không ngoại lệ/ Hai hàng khuy bướm sóng đôi/ Tôi-người lúng túng giữa trời áo em…Câu thơ lúng túng e thẹn mà thật tình.

Anh trai Hoàng Xuân Họa viết được bài tình này khi nào vậy? Anh không đáp mà cao hứng đọc thơ dàng người nhỏ nhắn còn săn chắc tóc đã muối nhiều hơn tiêu giọng bảnh thực khó tin đây là lão ông đã ngoài bảy chục. Anh đọc bài thơ tình ngắn như chừng mới viết. Bài thơ có cái tên khá ngộ Anh Chìm

Anh chìm ngụp giữa hội Lim
Liền anh liền chị liếc nhìn đâu anh
Bao nhiêu giếng mắt đa tình
Liếc nhau đổ quán xiêu đình người ta
Anh đây rất đỗi thực thà
Cố chen vào hội để mà nao nao
Tức điên với cái cổng chào
Chặn ngang mất lối anh vào mắt em…

Chu choa rõ ràng không phải ông lão ngoài đầu bảy mà là chàng trai thì mới sân si chen lấn đi chơi hội đi chiêm ngắm tình và ngây ngất trước sắc  xuân đến thế. Đem chuyện tuổi tác mà xét nét thơ yêu thì có vẻ như là đúng thói quen tập quán  thuần phong mỹ tục dân ta. Cười mà nghĩ vậy là bởi khi đã thấy vườn đời đủ đầy nội ngoại nheo nhéo đưa gọi nội đưa chào ông thậm chí có đứa khoanh tay gọi cụ trẻ mà cụ trẻ còn nói chuyện yêu dù là bằng thơ thì cũng e là  “ mất nết”. Nghĩ vậy chợt hỏi: Mình thì sao? Tôi thua anh Họa chút tuổi cũng đầu bảy và gần như từ nhỏ đến tận bây giờ cứ cầm bút gieo vần là y như chỉ viết thơ yêu. Một nhà thơ Nga VaDim Shefner (1915-?) đã bênh vực những thi nhân già khi viết thơ yêu như chúng tôi với bài Tuổi Thứ Năm Việt ngữ nhà thơ Bằng Việt chép tặng anh Họa cũng là  tặng tôi.

Tình yêu là thời điểm thứ năm của ngày/ Không phải sáng hay trưa không phải chiều hay tối/ Khoảnh khắc có tình yêu vụt thành sáng chói/ Khi đánh mất đi rồi buổi sáng hóa đêm thâu!

Tình yêu là mùa thứ năm của năm/ Không chỉ giống xuân hạ thu đông chẳng có mùa nào thật đúng/ Mà phụ thuộc vào hai người yêu nhau sung sướng/ Say đắm yêu thương và sáng tạo ra mùa!

Tình yêu không phải đoạn đời nào đã trải/ Chẳng phải tuổi thơ tuổi thanh niên tuổi trưởng thành hay cả tuổi già!/ Cũng không giống chút nào các tuổi chiêm nghiệm trong sách vở/ Tình yêu là tuổi thứ năm trong cả cuộc đời ta!

4. Dẫn bài Tuổi thứ năm ở trên để rằng: Hoàng Xuân Họa không chìm trong thứ thơ yêu mà người khác như tôi chẳng hạn chìm trong thứ thơ đơn thuần yêu yêu thực của trống mái của âm dương mà anh Họa chìm trong thơ tình “không mất nết” thứ thơ tình đời của người đầu bảy trang nghiêm nhìn tình yêu với chút tiếc nuối chút hoài nhớ và chút mơ hồ giận hờn. Thế nên phần lớn các bài thơ tình của Hoàng Xuân Họa đều là những bài thơ tình tâm trạng tâm trạng của thế thái nhân tình tâm trạng của trách giận đôi khi phẫn nộ đôi lúc cợt cười tâm trạng  tình về làng xóm về bằng hữu về chính bản thân mình như thế soi gương mà thấy cái tình khi chân thành lúc trái ngang lúc phê phán khi tố cáo. Phê phán dù chỉ thoáng qua nhưng thật sâu sắc. Tố cáo chỉ nhẹ nhàng như  tiếng thức nhưng đủ bừng tỉnh cả mặt trời.

Mời nghe một lời than không phải lời than mà là một tâm sự không hẳn là một tâm sự mà là một tấm lòng thơ tự trách mình không “ngộ tu thân” để nên nỗi Gối đầu lên chính tay mình tôi mơ/ Bài thơ đẹp ngộ như bài hát ru tất nhiên là tự ru:

Gối đầu lên gió tôi mơ/ Lên sóng ào ạt tôi chờ biển im/ Gối đầu lên phút bình yên/ Lên trăng lên nước lên niềm tin yêu/ Gối đầu lên những buổi chiếu/ Cầu vồng nắng quái với nhiều chênh chao/ Gối đầu lên những vì sao/ Cho căng mắt nhớ cồn cào ngày xa/ Gối lên mây thắm ánh ngà / Lật đi giở lại hóa ra…tay mình!/

Như một giao thoa của tâm hôn thơ ông nhà thơ Nga dẫn ở trên viết được thơ quá hay Tuổi Thứ Năm Hoàng Xuân Họa viết bài thơ Trách Tháng 5 in trong tập Trót một thời yêu không hề kém. Chỉ khác nhau ở chỗ nhà thơ Nga VaDim Shefner tụng ca tình yêu tình yêu tạo ra một không gian mới thời gian mới mà hình như vũ trụ bỏ quên đó là mùa tình yêu. Còn Hoàng Xuân Họa thì lại than trách tháng 5 cứ như văn tự anh viết thì là tháng 5 theo thứ tự tháng trong năm đã khiến khu vực thơ bị bó hẹp trong ý nghĩa không gian và thời gian nếu chữ số 5 được thay bằng chữ Năm thì có lẽ không gian thơ tình thơ đã lộng cánh hơn nhiều và tâm trạng thơ vì thế mà gặp gió núi gặp sóng biển mà bát ngát mang mang…Nhưng dù sao như đã nói trong sách thơ Trót một thời Yêu 1 và 2 thì đây là một bài thơ vuông tròn và hay.

Tháng 5 nắng tháng 5 mưa
Tháng 5 vừa tới lại thừa tháng 5 ( năm nhuận?)
Đợi chờ héo mấy con trăng
Buồn vung cá quẫy sủi tăm mặt hồ

Lộc vừng chín ngọn sóng  xô
Rắc đầy mặt sóng đỏ bờ xác hoa
Chông chênh ghế đá một ta
Đợi người người mải đi xa hút trời

Mặt hồ sóng rộn đầy vơi
Ta ngồi đếm sóng vời vời dửng dưng
Người đông trước mặt sau lưng
Hồn ta xoáy gió vơ từng bóng mây

Tháng 5 vơi tháng 5 đầy
Tháng 5 (năm) trống rỗng nhường này…tháng 5 (năm)!

Tháng 5 (như anh viết) lại sắp về rôi cầu cho tháng 5 này vui hơn để thơ vui hơn để tuổi già cùng nhau đọc mà thụ hường niềm vui. Còn cái tâm trạng tâm trạng người cao tuổi chúng mình ấy mà ta nhường cho con cháu được không anh?. Chờ được đọc những bài thơ rất thơ của anh.

 

Thơ Hoàng Xuân Họa
Nguyễn Nguyên Bảy đò đưa

 

Nguồn: http://nguyennguyenbay.com

http://vanhac.org

More...

= Lời bình của Trần Vân Hạc

By Hải Xuân

(Đồng cảm với tác giả Hoàng Xuân Họa qua bài thơ: AI MUA HỒ TÂY RA MUA)

SDC10234.JPG      

AI MUA HỒ TÂY RA MUA 

Ai mua đi hộ Hồ Tây
Đem xa ra khỏi chỗ này cho xong
Khỏi tôi rối bối bòng bong
Khỏi nhìn sóng cộm khỏi mong cháy hồn
Khỏi qua đây để đếm buồn
Khỏi chuông Trấn Quốc thỉnh xuông mỗi chiều
Đầy hồ sao sáng bao nhiêu
Bỏ tôi đứng đực ước điều hư không
Đã từng một giải bờ mong
Đã từng chộn rộn sóng lòng dâng chao
Quanh đi bước thấp bước cao
Quành lại gió ném ào ào lá khô
Liễu buông mành liễu vu vơ
Mộng du nện gót đến trơ khấc mình

Hoàng Xuân Họa
(Trót một thời yêu II – Nhà xuất bản Hội nhà văn 2006)

  

Lời bình của TRẦN VÂN HẠC:

Trên đời này có ai lại mong: “Ai mua đi hộ Hồ Tây” bao giờ thế mà nhà thơ Hoàng Xuân Họa lại cầu khẩn như vậy đấy. Thậm chí còn mong người ta: “Đem xa ra khỏi chỗ này cho xong”. Thật là ngược đời thật là trớ trêu! Nhưng cái lạ ẩn chứa trong cái tưởng như không bình thường ấy là những suy tư trăn trở đau xót trước danh lam thắng cảnh Hồ Tây đang mất đi vẻ đẹp nguyên sơ trong sáng của một con người biết yêu biết trân trọng nâng niu cái đẹp của quê hương đất nước.
Nhà thơ đặt ra một giả thiết là Hồ Tây không còn ở đó và không còn trong tâm tưởng mỗi người? Chỉ nghĩ đến lúc ấy mà lòng chợt quặn thắt. Hồ Tây sản phẩm tuyệt vời của dòng Sông Mẹ – (Hồ Tây vốn là một đoạn của sông Hồng) là nơi sản sinh ra bao truyền thuyết ly kỳ: theo truyện “Hồ Tinh” thì có tên là hồ (hoặc đầm) Xác Cáo vì truyện kể là có một con cáo chín đuôi ẩn nấp nơi đây làm hại dân. Long Quân mới dâng nước lên phá hang cáo hang sập thành ra hồ.Theo truyện “Khổng lồ đúc chuông” thì hồ lại có tên là Trâu Vàng gắn với câu chuyện ông khổng lồ có tài thu hết đồng đen của phương bắc đem đúc thành chuông khi thỉnh chuông tiếng vang sang bên phương bắc. Vì đồng đen là mẹ vàng nên con trâu vàng phương Bắc nghe tiếng chuông liền vùng đi tìm mẹ tới đây nó quần tìm mẹ mãi khiến đất sụt thành hồ. Từ thế kỷ 11 hồ này đi vào lịch sử với tên là Dâm Đàm (Đầm mù sương) tới thế kỷ 15 thì đã gọi là Tây Hồ.
Ngay từ thời Lý – Trần các vua chúa đã lập quanh hồ nhiều cung điện làm nơi nghỉ mát giải trí như cung Thúy Hoa thời Lý điện Hàm Nguyên thời Trần nay là khu chùa Trấn Quốc cung Từ Hoa thời Lý nay là khu chùa Kim Liên điện Thuỵ Chương thời Lê nay là khu trường Chu Văn An…
Những ngày đẹp trời chơi thuyền Hồ Tây là một thú tao nhã đồng thời cũng được thăm khá nhiều di tích và thắng cảnh: Làng Nghi Tàm quê hương nhà thơ “Bà huyện Thanh Quan” với chùa Kim Liên có kiến trúc độc đáo; làng Nhật Tân như thiếu nữ đương thì khoe sắc hoa đào mỗi độ xuân về tương truyền là nơi Lạc Thị đời Hồng Bàng sinh ra một bọc trứng nở thành bảy con rồng. Rồi làng Xuân Tảo với đền Sóc thờ Thánh Gióng làng Trích Sài có chùa Thiên Niên thờ bà tổ nghề dệt lĩnh sang làng Kẻ Bưởi có nghề làm giấy cổ truyền và đền Đồng Cổ thờ thần Trống Đồng được xây dựng từ đời vua Lý Thái Tông nơi bách quan hội thề: “Làm con bất hiếu làm tôi bất trung xin thần minh giết chết”. Làng Thụy Khuê có chùa Bà Đanh nổi tiếng một thời… Và đặc sắc nhất là đền Quán Thánh. Xưa Cao Bá Quát đã miêu tả hồ Tây là Tây hồ chân cá thị Tây Thi (Hồ Tây đích thị là nàng Tây Thi). Đây là một cách ví von độc đáo nhưng thật đúng trước thắng cảnh của thủ đô đẹp cả bốn mùa. Hồ Tây là một không gian văn hóa không thể thiếu của Thủ Đô và trong lòng người Việt.
Nhân vật trữ tình (tôi) trong bài thơ thực ra vô cùng yêu quí Hồ Tây đồng nhất vẻ đẹp của Hồ Tây với tâm trạng của mình. Hồ Tây tự bao giờ đã gắn bó máu thịt với nhà thơ: “Đã từng một giải bờ mong/ Đã từng chộn rộn sóng lòng dâng chao”. Cái điệp “đã từng” ấy như vết khắc vào tình cảm của nhà thơ rồi và Hồ Tây đã trở thành không gian nghệ thuật cho nhà thơ trải lòng gửi gắm tình cảm.
Có phải đã bao lần nhà thơ dạo bước quanh hồ. Đã bao lần buồn vui chia sẻ cùng Hồ và cùng Hồ ngâm nga câu ca: “Gió đưa cành trúc la đà. Tiếng chuông Trấn Vũ canh gà Thọ Xương. Mịt mù bãi cát màn sương. Nhịp chày Yên Thái bóng gương Tây Hồ”. Đã bao lần nhà thơ thả hồn trong mênh mông mù sương và dõi theo những cánh sâm cầm “vỗ cánh mặt trời”. Đã bao lần nhà thơ lặng trong tiếng chuông chùa ngân xuyên ba cõi… Hồ Tây đã trở thành người bạn thân thiết của nhà thơ. Bởi vậy nếu như Hồ Tây không còn giống như một nhà thơ từng tuyên ngôn: “Nếu như không có dòng Hương/ Câu thơ xứ Huế nửa đường đánh rơi”. Thì đây có phải là tuyên ngôn của nhà thơ Hoàng Xuân Họa?
Điệp từ: “Khỏi” được nhắc lại tới năm lần như muốn dứt đi những cái “gai” trong mắt nhà thơ những cái làm phá vỡ không gian tuyệt vời của Hồ Tây. Bốn câu thơ cuối khắc họa rõ nét tâm trạng đau đớn khắc khoải cô đơn thậm chí bất lực của nhà thơ trước cảnh Hồ Tây bị thu hẹp bị phá vỡ cảnh quan bị đầu độc… Cảnh nhà thơ: “quanh đi” “quành lại” thật đáng suy tư đầy tâm trạng và xa xót khi thấy nhà thơ: “bước thấp bước cao” mà chỉ có: “gió ném ào ào lá khô”. Ai người đồng cảm? Ai người tri âm?
Cách nói tửng tửng ngược đời của nhà thơ Hoàng Xuân Họa trở thành một dụng ý nghệ thuật phản ánh thực trạng vô tâm của con người đang diễn ra với Hồ Tây và là cách thể hiện tình cảm rất lạ độc đáo với thắng cảnh Tây Hồ tạo nên những dư ba ám ảnh và trăn trở trong lòng người đọc. “Ai mua đi hộ Hồ Tây/ Đem xa ra khỏi chỗ này cho xong”! Rồi cái cảnh: “Mộng du nện gót đến trơ khấc mình” sao mà phũ phàng đến thế nhà thơ đi như trong vô thức với ngổn ngang bề bộn tiếc nuối và khát khao dẫu nói không thành lời: “Bao giờ trở lại ngày xưa” ? Bài thơ như một thông điệp thức tỉnh lương tri mỗi người.

                                Hà Nội 24 -3 -2011

                                  Trần Vân Hạc

       (Nhà giáo – nhà nhiên cứu văn hóa Thái Tây Bắc)

Nguồn: http://vanhac.org nguyennguyenbay.com datdung.com

SDC10228.JPG

SDC10236.JPG

Hồ Tây đang bị nhà hàng khách sạn lấn như lấn ao nhà

More...

Đạo diễn điện ảnh Nguyễn Anh Tuấn bình bài thơ "Làng tôi"

By Hải Xuân

Thêm một tấm lòng đau với làng quê- Nguyễn Anh Tuấn

  alt

THÊM MỘT TẤM LÒNG ĐAU VỚI LÀNG QUÊ.

Lần đầu tiên tôi được gặp nhà thơ Hoàng Xuân Họa trong cuộc gặp mặt giữa vợ chồng nhà thơ Nguyễn Nguyên Bảy &Lý Phương Liên với những người hầu hết mới chỉ biết nhau qua mạng tại Nhà văn hóa TN Hồ Thuyền Quang chiều mùng 3 Tết Tân Mão. Lúc được biết Hoàng Xuân Họa là người đã chép hai bài thơ của LPL để trong ba lô suốt những năm tháng chiến trường và còn giữ tới ngày hôm nay tôi tò mò thích thú rồi lân la tới làm quen. Ông tặng tôi tập thơ "Trót một thời yêu" mới xuất bản. Trong lúc trò chuyện giao lưu cùng những người bạn mới đều yêu thơ NNB&LPL tôi lật giở vội vài trang của tập thơ TMTY và có một tên bài thơ (cùng một vài câu của bài thơ đó) kịp in vào ấn tượng của tôi... Nhưng phải đến hơn một tháng sau khi tôi lục tìm tư liệu để chuẩn bị cho một phim tài liệu sắp thực hiện giở đến cuốn sách cũ "Thiên nhiên Việt Nam" lúc dừng lại khá lâu ở một đoạn do tôi gạch chân hơn ba mươi năm trước và đã từng thuộc nó thì tôi mới sực nhớ lại tên bài thơ của HXH. Tôi tìm tập thơ tặng để đọc- và trước hết là bài này:

LÀNG TÔI

Làng ta tên gọi An Khang

nửa làng thiên Chúa nửa làng Thích ca

đầu làng xòe tán cây đa

cuối làng cây gạo đỏ hoa cháy chiều

nửa kia kính Chúa cũng nhiều

nửa này tâm Phật vạn điều ước mong

sông Hồng vẫn nghẹo khúc cong

con đê ngăn lũ uốn vòng con đê

làng tôi như ngậm bùa mê

ăn hạt lúa chét hạt kê mấy đời

khuyên nhau chín bỏ làm mười

ra đường chỉ gặp nụ cười nửa môi

Thánh thần ăn thịt ăn xôi

còn nồi cháo thí dân ngồi chia nhau

tội thân ba vị đầu rau

đội nồi nước xuýt đục ngầu nhìn xuông

làng tôi cà pháo dầm tương

vẫn vui như tết!...Nghĩ thương cái làng!

( Trót một thời yêu II- HOÀNG XUÂN HỌA - Nxb Hội nhà văn 2010)

Còn đoạn văn mà tôi tìm lại được trong cuốn sách địa lý tự nhiên nổi tiếng của cố GS địa lý học Lê Bá Thảo là những dòng đẹp như thơ viết về làng quê Bắc Bộ như sau: "… Từ thuở nhỏ ai mà chẳng được sống trong lời ru của bà của mẹ mà âm điệu du dương của chúng mang bóng dáng của đất đai làng mạc đã tạo nền cho tình yêu quê hương đất nước thắm thiết lắng sâu vào tâm hồn… Những cảnh vật quen thuộc của đồng bằng đã đến với tuổi thơ bao thế hệ thông qua những câu ca dao ca ngợi lao động và tình yêu quê hương những bài tập đọc trong sách giáo khoa những bức tranh miêu tả những cánh đồng thẳng cánh cò bay những thôn làng nằm yên ả sau luỹ tre có giếng nước ao làng có mái đình chùa rêu phong cổ kính có những cây đa cổ thụ chơ vơ ngoài gò ngoài bãi …” ( Địa lý tự nhiên Việt Nam- Nxb Khoa học kỹ thuật Hà Nội -1977)

Hầu như người Việt Nam nào cũng có một quê hương thi vị của tuổi ấu thơ in hằn trong tâm tưởng và chắc hẳn đều có thể tìm thấy sự đồng vọng thân thương ở những dòng văn trên...

Nhưng cái "thôn làng yên ả" đó giờ đây sao mà buồn thế - qua thơ văn của nhiều tác giả hiện đại mà bài thơ "Làng tôi" của HXH đang hiển hiện trước mắt tôi là một trong những dẫn chứng tiêu biểu!

Như nhiều làng quê khác ở đây vẫn còn cây đa đầu làng cây gạo cuối xóm vẫn còn tiếng chuông chùa văng vẳng chuông nhà thờ ngân nga khi hoa đỏ "cháy chiều" vẫn dòng sông chở nặng phù sa "nghẹo khúc cong" qua những đoạn đê ngăn lũ song nơi đây cuộc sống đã mang một nội dung khác lạ mà HXH khái quát bằng câu thơ: " làng tôi như ngậm bùa mê..." Bùa mê gì vậy? Điều gì khiến một người trí thức xa quê lâu ngày trở về phải bàng hoàng than thở: "Thi thư hồn vía để đâu/ Mà sao cảnh ngộ xót đau thế này..." (Nguyễn Huy Hoàng CHLB Nga). Cái bùa mê đã được tung ra trên làng quê HXH bởi những dự án làm sân gol làm khu công nghiệp khu vui chơi giải trí với những lời hứa hẹn xuông để rồi ném người nông dân ra khỏi đất canh tác nông nghiệp truyền thống để họ choáng ngợp với khoản tiền đền bù chẳng bõ bèn gì nhưng cả đời nằm mơ chẳng thấy để sa vào đề đóm cờ bạc cuống cuồng hưởng thụ đồ thứ phẩm đồ bãi rác thành thị để rồi sau đó làm kẻ nuốt hận trước sự lật lọng của các ông chủ mới trước cảnh xả ô nhiễm đầu độc sông suối và bầu trời hoặc cảnh đất bỏ hoang của những dự án treo nhằm trục lợi... Cái bùa mê được tung ra bởi những kẻ có chức quyền mà đầu óc thì quay cuồng trước lợi ích cá nhân và trái tim thì đã đông cứng lại trước tình đồng bào đồng chí! Chủ nghĩa thực dụng và chủ nghĩa cá nhân cực đoan đã theo chân những kẻ trọc phú những "ông chủ mới"- đúng hơn là những cường hào mới về tận ngóc ngách của làng quê yên bình gặm nhấm đục khoét hủy hoại biết bao giá trị văn hóa truyền thống quý báu được tạo dựng trong nhiều thế kỷ biến cái cái đạo lý thật đẹp: "Người ta - Hoa đất" thành "Người ta - Hoa tiền"- mọi thứ đều đo đếm bằng tiền nong lợi lộc thời buổi mà mọi nghĩa tình chân thật xưa nay hầu đã biến thành vẻ bề ngoài:

khuyên nhau chín bỏ làm mười

ra đường chỉ gặp nụ cười nửa môi

Lòng căm giận của nhà thơ trước những bất công xã hội trước cảnh buôn thần bán thánh cảnh mua danh bán tước trơ tráo đang diễn ra hàng ngày hàng giờ trong làng quê thân yêu có tên An Khang dường khiến ông như không kìm được sự nổi khùng buộc phải thốt lên lời chửi bới cho hả song ông kìm lại được để buông ra sự miêu tả có bình phẩm vừa trực diện vừa thâm thúy:

Thánh thần ăn thịt ăn xôi

còn nồi cháo thí dân ngồi chia nhau

Hai câu lục bát "Thánh thần ăn thịt ăn xôi/ còn nồi cháo thí dân ngồi chia nhau" mang màu sắc ca dao rõ rệt chứa đựng sự thật đau xót và cả thái độ phản kháng cố ghìm lại thành vẻ khách quan như lời ru lời răn dạy con cháu trong hai câu ca dao cũ: "Con ơi nhớ lấy câu này/ Cướp đêm là giặc cướp ngày là quan." Hình ảnh "nồi cháo thí" là một sáng tạo đột xuất của tác giả vì cháo thí thường chỉ dùng trong ngày xá tội vong nhân cháo được múc vào những chiếc lá đa dành cho cô hồn lang thang hoặc bát cháo thí dành cho những người cơ nhỡ xin ăn lạc qua làng..."Nồi cháo thí" ở đây tượng trưng cho sự bố thí thảm hại dành cho những người vốn là chủ nhân thật sự của đất đai ruộng vườn giờ đang bơ vơ tuyệt vọng ngay trên mảnh đất ông cha không còn là của họ nữa! Câu thơ "còn nồi cháo thí dân ngồi chia nhau" vừa có sức khái quát lay động vừa cụ thể đến run người sao mà gợi chua xót đến vậy khiến người đọc phải lặng người tê tái! Chưa dừng lại ở đó tác giả còn bồi thấn thêm về cảnh ngộ của dân bằng hai câu nữa:

tội thân ba vị đầu rau

đội nồi nước xuýt đục ngầu nhìn xuông

Ba vị "thổ công thổ địa thổ kỳ "* là những hình tượng dân gian quen thuộc gần gũi đối với cuộc sống dân dã cũng phải chịu sự đối xử bất công không kém những người bạn bần hàn chung thủy suốt cuộc đời của họ những người nông dân đầu tắt mặt tối. Tác giả bộc lộ trực tiếp sự cảm thông: "tội thân ba vị đầu rau" rồi dùng hình ảnh nhân hóa cùng sự hài hước mà khiến người ta trào lệ: "đội nồi nước xuýt đục ngầu nhìn xuông."

Khốn khổ thay cho người dân xứ quê HXH những người vốn từ xa xưa đã phải sống trong cảnh: "ăn hạt lúa chét hạt kê mấy đời" thì đến nay sau bao sự đổi thay bao cuộc cách mạng long trời lở đất vẫn không khá hơn là bao bởi quan tham bởi những chính sách đúng đắn không đến được với dân lành thấp cổ bé họng! Họ vẫn phải mót lượm thứ lúa chét (Tôi đã phải hỏi han khá nhiều người rồi mới vỡ lẽ ra: đó là thứ lúa dại mọc lên từ cây rạ sau khi đã thu hoạch xong vụ qua một thời gian mà chỉ vùng chiêm trũng mới có thứ lúa chét này ăn đắng ngắt song vẫn còn hơn là đứt bữa! ). Và quê hương ông vẫn là "tương cà gia bản" như bao đời nay: "làng tôi cà pháo dầm tương". Nhưng: "vẫn vui như tết!..." Ôi cái lạc quan đáng yêu và cũng thực đáng thương biết bao!

Khi nhà thơ thốt lên: "Nghĩ thương cái làng!" ta có cảm giác đôi mắt ông lúc này cũng đang "ầng ậng nước" (mượn từ mà nhà văn Nam Cao đã dùng trong truyện ngắn "Lão Hạc".)

Cái hay của một bài thơ thường vượt ra ngoài chữ nghĩa thuần túy để hé lộ cho người đọc cảm nhận được một cách thấm thía tấm lòng của người làm thơ là như vậy!

__________________________

* Ba ông đầu rau theo truyền thuyết dân gian Việt Nam được gọi chung là Táo quân và chung cho cả 3 ngôi: Thổ công Thổ địa và Thổ kỳ. (Thổ công được giao nhiệm vụ trông coi việc bếp núc; Thổ địa trông coi việc trong nhà; Thổ kỳ trông coi việc chợ búa.)

Đạo diễn điện ảnh Nguyễn Anh Tuấn

Nguồn: http://vanthoviet.com

More...

Nhà thơ Nguyễn Nguyên Bảy bình chùm thơ khai bút đầu năm

By Hải Xuân

Lời bình của Nguyễn Nguyên Bảy 

 

            Đọc ba câu thơ của Hoàng Xuân Họa : /Tam Đảo Ba Vì/ căng sáu bầu vú mẹ/ sữa tràn đồng xanh/ Tôi giật mình thốt lời: Haiku Việt đây chăng? Sao thi nhân không nói? Tôi vội vàng tìm cuốn Thơ Haiku Việt do NXB Văn học ấn hành được nhà thơ Đinh Nhất Hạnh ký tặng Tết Tân Mão mới rồi. Tôi mở đọc gặp ngay bài Haiku của Đinh Nhất Hạnh: / Sương khuya hồ Tây/ sâm cầm vụt cánh/ trăng lay/ Đọc tiếp Đinh thị Thu Vân: Tôi bóng thành đôi / còn trăng khuyết nữa/ ai đầy ai vơi?/ Và thêm: / Trên gương/ chú ruồi hôn bóng/ vơi ngày cô đơn/ của bạn thơ Haiku trẻ Thanh Tùng...
           Ô hay đang đò đưa thơ Hoàng Xuân Họa bỗng nhảy vào "nhiều chuyện" Haiku là sao? Là thế này cuốn HaiKu này và nhiều nhiều những sách thơ khác của các bạn thơ tặng tôi đang tính xếp vào valy bồng về sài Gòn thì bỗng có bạn thơ " chuyên nghiệp" ghé thăm tia mắt qua đống sách mới khuyên rằng: Mi đã mấy chục năm làm thơ sao chưa chịu rời chiếu nghiệp dư vào sa lông chuyện nghiệp mà tung hoành già rồi thời gian dâu nữa mà nhâm nhi cái thứ nghiệp dư này. Tôi ngậm miệng không dám cãi và tất nhiên vẫn bồng sách về Sài Gòn và đọc không sót cuốn nào của bằng hữu. Đã nói rồi nhiều lần nay nhắc lại thơ là tiếng lòng đã là tiếng lòng thì làm gì có chuyên nghiệp và nghiệp dư nhỉ ? Chúng mình cùng nhau sung sướng trên chiếu thơ nghiệp dư đã sao ? Cũng nhờ chiếu nghiệp dư này mà tôi biết Haiku Việt. Và nhé đôi ba bài Haiku tôi dẫn ở trên mời " các chuyên nghiệp" thơ đọc và so sánh với tài thơ chuyên nghiệp của mình.

Tôi nói vây không có ý so ganh gì thơ phú với nhau. Mời đọc một câu của Nhật Chiêu trong bài Nắng mới từ thơ Haiku (sách đã dẫn):

/ Từ khắp mọi miền đất nước thơ Haiku đã ngân nga tiếng nói giầu nhạc điệu tiếng nói mang hồn lục bát để đi đến một hòa âm mới"/

Thưa bạn Nhật Chiêu nói rằng: Từ khắp mọi miền đất nước e là "nổ" này văng miểng quá! Và thêm tiếng nói này mang hồn lục bát để đi đến một hòa âm mới/ thì hình như chưa thể và không bao giờ có thể bởi dân Nhật họ sẽ kiện đấy bởi HaiKu là HaiKu và dân ta cũng chẳng chiu đâu Lục bát là Lục bát. Và dù Haiku Lục bát có phối ngầu với nhau cũng đẻ ra thứ Haiku Việt  chứ làm gì có thứ xác Haiku hồn Lục bát ?

 

Nhựng với ba câu bài Vú mẹ dẫn ở trên của HXH mà tôi hiểu thêm Haiku và thêm yêu quí thơ thì kể ra HaiKu cũng đã có đất ở thi đàn thơ Việt ta rồi đấy.

Nhưng Hoàng Xuân Họa có nói mình làm thơ Haiku gì đâu. Bài này ba câu như bất kỳ các nhà thơ nào khác khi ngẫu hứng sinh tình vẫn làm đấy chứ! Tôi tự cười mình và xin anh cho cùng đi Hội Lim cuối chầu (bài lục bát). Công bằng mà nói câu mở của khúc lục bát đầu: / Mùa xuân má ửng tươi tươi/ thì quả là hơi xưa xưa cổ cổ hơi nhà quê nhưng may quá ba câu sau thơ từ từ lên ga: Lung linh tia nắng ngọt môi ai tìm (rõ ràng là đang từ từ lên ga tia nắng ngọt môi nghe được lắm chứ để rồi bay vút lên / Trời xanh thăm thẳm cánh chim/ Xé rào anh tới hội Lim cuối chầu.../ Bốn câu vừa dẫn không thật hay cũng chẵng phải lục bát khuôn mẫu nhưng rõ ràng là bốn câu thơ mà khi đọc lên ta nghe lòng xao xuyến. Xé rào (hẳn là sợ sư tử Hà Nội - Hà Đông bây giờ đã là Hà Nội) Xé rào để đi chơi hội Lim cuối chầu / Hội Lim cuối chầu là hội Lim gì ? là sắp vãn hội? Mua bán đong đưa gì lúc sắp vãn hội hở Thơ? Đọc rồi khắc biết. Và đoan chắc một điều dù đi hội Lim cuối chầu nhưng Hoàng Xuân Họa đắc ý khoái sướng lắm vì nếu không khoái sướng thì  làm sao viết được hai câu kết thơm nức nở thế này: Cái cầu giải yếm chín mầu/ Buộc anh trăm nút còn đâu lối về ?

 

Bài Vú mẹ ở trên tôi bình được vì đó là vú mẹ non nước vú mẹ sữa tràn đồng xanh còn Mẹ bài sau là Mẹ của riêng Hoàng Xuân Họa.  Cảm thương cho HXH mẹ lên Trời lúc anh mới 13 tuổi 60 năm rồi / Con bây giờ đã sang tuổi bẩy ba/.  Mồ côi khổ lắm ai ơi tôi cũng mồ côi cả tứ thân phụ mẫu gần ba chục năm rồi. Nói về cha mẹ anh Họa ơi người con nào cũng  rơi nước mắt xót thường và ai cũng trách mình đã không báo đáp được công trạng hiếu nghĩa gì cho cha mẹ. Anh là người con làm thơ viếng mẹ bằng thơ hỏi đã mấy ai viết được những vần  thơ về mẹ muối ruột xót gan thế này:

/ Nơi mẹ nằm xung quanh toàn người lạ
Ai cũng tuổi cao ai cũng mất khi già
Chỉ riêng mẹ mất thời quá trẻ
Mái tóc xanh mươn mướt buông xòa /

Anh Họa ơi cho em được cùng anh đi viếng hương hồn Mẹ. Thưa Mẹ xin mẹ nhận nơi chúng con tấm lòng thành của những đứa con thơ.

/Bao lì xì hình chú mèo đỏ gấc
con kính dâng
sao mẹ mãi chẳng cầm.../

                                                  Nguyễn Nguyên Bảy

                                                             (TPHCM)

 

Nguồn: http://nguyennguyenbay.com

More...

Chùm thơ khai bút đầu năm

By Hải Xuân

Hội Lim cuối chầu

Mùa xuân má ứng tươi tươi

lung linh tia nắng ngọt môi ai tìm

trời xanh thăm thẳm cánh chim

xé rào anh tới hội Lim cuối chầu

  

chen chen mấy ả Thị Mầu

liếc xuôi liếc ngược liếc đâu cũng tình

anh đi… đi mỗi một mình

cái xe máy mượn với bình rượu thơ

  

khật khà khật khưỡng anh mơ

Trương Chi khoe sáo Tấm giơ khoe hài

Từ Thức tính một tính hai

cõi trần cũng tiếc Bồng lai cũng thèm

 

vắng người nên đỡ phải chen

anh leo Quán dốc anh men qua cầu

cái cầu dải yếm chín màu

buộc anh trăm nút còn đâu lối về?

                             Tháng 2 - 2011

 

VÚ MẸ

Tam Đảo Ba Vì

Căng sáu bầu vú mẹ

sữa tràn đồng xanh

 

ĐINH TẶC

Em đinh tặc tình trường

trái tim anh nửa đường xịt lốp

trắng đời ẩm ương

 

Tết mừng tuổi mẹ

Mùng một Tết con xuất hành mừng tuổi mẹ

sáu mươi năm mẹ vẫn tuổi ba ba

vuông đất hẹp mẹ nằm hiu quạnh qúa

cỏ rồi bời nhần nhận đắng sương sa

 

nơi mẹ nằm xung quanh toàn người lạ

ai cũng tuổi cao ai cũng mất khi già

chỉ riêng mẹ mất thời quá trẻ

mái tóc xanh mươn mướt buông xòa

 

sáu mươi năm trên hai mốt nghìn ngày qua

tấm bia đá phai màu bạc phếch

con bây giờ đã sang tuổi bảy ba

tóc pha sương thân lùn đi đôi khấc

 

đời chẳng có gì chỉ toàn thấy mất

châu báu không cũng chẳng tài ba...

bao lì xì hình chú mèo đỏ gấc

con kính dâng...

                       sao mẹ mãi chẳng cầm

                       Mùng một Tết Tân Mão (2011)

                           Hoàng Xuân Họa

More...