Sign up

Chùm thơ cho tháng 1- 2012

Published on 19:29, 01/11,2012

Đê chiều

Đường mùa xuân rung bàn chân bước

lối cỏ may xào xạc gió đông

quả khế chua rụng vàng nỗi nhớ

con đê chiều còn nhớ anh không

 

Ngây dại

Bóng núi ngả đầu vào bóng núi

anh thôi đành thả nắng vào mây

theo con suối chảy êm bờ mộng

khúc dạo đầu đã dại… lại ngây

 

Chú hoẵng gặp may

Chai rượu đầy

chờ rót vào khoảng tối

bỗng chú hoẵng tuột dây chạy thoát về rừng

một bầy dao thớt băm nhau

rừng khuya đêm sương lại vang tiếng hoẵng

                                   Tháng 1/ 2012


Lại năm mới

Published on 20:02, 12/31,2011

alt

Lại năm mới

Nào năm mới

mới gì hơn hay vẫn mới cũ mèm

mới cà chớn, mới hoang đường sinh sự mới

 

mới giả vớ, mới con cá thờn bơn

thân mỏng dẹt vây dương tua tủa

da nhẫy trơn rất khó nắm cầm

mới để rồi sầy xước mới lơn tơn

 

như vốc đất ném lên trời tinh tướng mới

thiên hạ tưởng, thiên hạ sướng, thiên hạ rồ

đào toét nở, sâm banh bôm bốp nổ

mới ba ngày phù phiếm… mới giời ơi!

 

Ta hằng ước từ khi mười tám tuổi

mới bầu trời, mới đổi thay sao

mới mặt đất, cả tình đời tươi mới

đâu cần chi cái mới… mới theo mùa

                             31 -12 - 2011


Thơ

Published on 08:46, 12/23,2011

Đức mẹ.jpg

Trách  Noel

Em thuỷ mạc nét mồ côi tôi giá lạnh

vỡ hoang chiều rắc mảnh heo may

mùa thu vội theo dòng sông xiết

phút tạnh lòng lạc lối giữa tình ngây

 

mây đan khuyết bầu trời ai nào thấy

cánh cò xa bải hoải biết đâu về

đông lại tới gọi ông già tuyết dậy

đem lạnh lùng thả ánh mắt bồ câu

 

gió tròn trịa se mềm nỗi nhớ

tải vài câu chăng chắc không màu

bình phương tích gặp mùa sóng dậy

cầm tay nhau chẳng chút luỹ thừa nhau

 

nay tìm về nơi góc phố ngày xưa  

nơi ánh mắt đung đưa điều kỳ lạ

hai mái tóc rẽ về đôi ngả

để tháng năm hoài niệm Giáng Sinh mùa

 

không theo đạo, nên chẳng biết lễ nhà thờ

em theo mẹ vào thánh đường xưng tội

hút bóng bay đành đứng ngẩn chờ ngơ

Chúa được em còn tôi… kẻ mất

                              Hoàng Xuân Họa


THƠ VIẾT LUNG TUNG

Published on 20:32, 11/29,2011

         alt 

Ta - kẻ vãng lai qua thế gian này

Choáng ngợp đời nên phút tỉnh phút say

hót gió đổ sông Ngân gieo trồng củ quả

bung lòng mình băm bổ phới phơi trăng

ai thừa kế chữ tâm, ai thừa kế cả sự ác làm heo may han gỉ

kéo đông về héo quắt cỏ mây thu

 

mọi hiện tại mai này đều cổ tích

buông câu mấy sợi rối tơ mành

bốn phương đời vũ vần trống rỗng

môi se dòng cạn đáy sông lòng

đong giọt chiều đổ hoang trời mực tím

thi mi ma mị cuống nhau buồn

đầu ung nhọt tay vẫn quờ hưởng ứng

để sau rồi sa sút quặn ngày tuôn

 

hình như trái đất này có hai thế giới

một thế giới nỏ mồm, một thế giới nín câm

thế giới của những người hiền và thế giới của những kẻ thủ ác

điêu ngoa lấn át thực thà

chồm chỗm những cái đầu mưng mủ

chèo lái màn sương đâm bổ nát bìa rừng

gặt về mấy đám mây rơm rạ

héo quắt mùa sinh

 

hỡi đời, sao còn mãi vấn vương

ăn theo Thuý Kiều bán thân lâu đến Dzậy

gì thì gì Thuý Kiền cũng chỉ là vợ mướn

bán thân hết thời này, bán tiếp cho thời kia

nếu Nguyễn Du sống đến giờ, ông sẽ quăng Kiều vào sọt rác!

                                                    Hoàng Xuân Họa


Thấy người sang...

Published on 09:30, 11/15,2011

Không hiểu sao có một số người cứ thích xin được đứng cạnh những người nổi tiếng để chụp ảnh đem phóng thật to, lồng khung kính treo trong phòng khách để trưng... bày trên tường! Họ sướng nhất được chụp ảnh với nhưng vị quan chức to trên cao, thứ đến quan chức cấp tỉnh, cấp huyện sau đó là các nhà văn, nhà thơ, nghệ sĩ, và... thậm chí cả những người đẹp như hoa hậu, á hậu... Đề cập đến vấn để này, vì nhiều lần được chứng kiến những cảnh rất chi là mắc cỡ, mắc cỡ đến độ phải nín thở tấm tức nuốt một cục buồn. Một lần về dự kỉ niệm ngày thành lập trường cũ. Bạn đồng khoá tựu về đông đúc, thày trò gặp nhau tíu tít thăm hỏi sức khoẻ, đời sống kinh tế, con cái; hàn huyên và cùng nhau cả lớp chụp ảnh chung làm kỉ niệm. Có một vị, vị này, khi học xong sang công tác bên quân đội quân hàm cỡ cũng đại tá. Trong số đó có một vị cỡ to hơn ở trên cao đang còn tại chức. Chụp ảnh chung xong, vị đại tá xông đến bổ bã như thời đi học, lôi tót vị quan to ra một góc để bá cổ, ôm vai xin một kiểu ảnh chụp cận mặt hai người. Một thời gian sau, bất ngờ gặp lại vị đại tá đó trên đường, vị lôi bằng được về nhà chơi. Bước vào phòng khách đã thấy bức ảnh vị chụp chung với vị cán bộ nọ được phóng to treo nghềnh nghễnh trên tường ngoảnh ra cửa để khách vào là nhìn thấy ngay trươc khi ngắm những đồ đạc sang trọng khác. Không rõ vị làm thế để làm gì? Với cấp quân hàm đại tá của vị đã làm sang cho cả dòng họ nhà mình rồi mà vị lại còn muốn sang hơn bằng cách... có người bạn học chức vụ to hơn đang làm việc T.Ư!?              

        Còn một ông Chi hội trưởng NCT tổ dân phố X thì... muốn có một kiểu ảnh chụp với một vị tướng nổi tiếng để treo phòng khách cho oai đã công phu dàn dựng một vở... «chèo» lên cao! Bởi, nếu một mình ông ta đến thì cảnh vệ ai người ta cho vào. Ông ta bèn tổ chức cho các hội viên chi hội mình đi thăm nhà vị tướng đó để «đền ơn đáp nghĩa!». Chi hội, chỉ là đơn vị hạ tầng cơ sở của Hội, không có con dấu con má tự mình viết cái giấy giới thiệu để... giới thiệu một đoàn người đến nhà một tướng quân được. Vậy là, nhân buổi sinh hoạt chi hội tổng kết quý 1 đầu năm, sau đó là phương hướng, kế hoạch công tác của 3 quý tiếp theo. Ngay nhiệm vụ quý 2 trong bản kế hoạch đã có buổi: «đi thăm vị tướng» kể trên. Biên bản và bản kế hoạch ấy được trình lên cấp Hội NCT phường...

         Đi «đền ơn đáp nghĩa»? Tốt quá đi chứ. Hội NCT phường ủng hộ, cổ vũ một tràng vỗ tay rõ dài để hoan hô chi hội X đã có sáng kiến hay, Hội phường sẽ phổ biến kinh nghiệm cho các chi hội khác noi gương, làm theo, nếu ai muốn.

        Có được cái giấy giới thiệu cầm tay, ông chi hội trưởng NCT chi hôi X hô hào, vận động các thành viên ghi tên đăng ký và đóng tiền để thuê ôtô chở đi. Ông tươi cười giải  thích:

        - «Chúng ta tất cả đã tuổi cao, lại người biết đi xe máy, người  đi xe đạp, người đi xe buýt chờ nhau, mất ngày mất buổi, đến muộn giờ sẽ khó được vào. Mỗi ngày có vài đoàn đến thăm chứ đâu phải mình chi hội ta. Chúng ta đến thì cũng phải có thứ gì đó để tặng làm quà thì tướng quân mới nhớ việc chúng ta đến thăm. Đến suông rồi về, bị quên ngay. Đi mừng sinh nhật, mừng thọ, mừng đám cưới, mừng nhà mới... còn phải mừng phong bì, hiện vật nữa là. Chi hội ta nên đặt một bức tranh sơn mài vẽ trận chiến mà tướng quân chỉ huy đánh thắng làm trấn động địa cầu năm xưa, ghi rõ chi hội ta kính tặng để tướng quân mỗi lần ngắm bức tranh còn nhớ ra đoàn ta đã tới!».

        Kế hoạch hôm trước bàn làm sao hôm sau ông chi hội trưởng làm y xì vậy: Thuê xe, đi đặt mua tặng phẩm; ông ta một mình đến đăng ký với cảnh vệ, để cảnh vệ sắp xếp ngày, giờ tướng quân dành thời gian tiếp.

        Một tháng sau cũng đến lượt, chi hội X rồng rắn hối hả lên xe theo lịch hẹn. Tới nơi, cả chi hội xuống xe, xếp hàng để vào. Tuy tướng quân đã ở tuổi 90 nhưng ông còn nhanh nhẹn, minh mẫn, thỉnh thoảng vẫn thấy những bài viết ký tên tướng quân trên các tờ báo lớn. Nửa giờ với tướng quân thật vui vẻ, chụp được bao nhiêu là ảnh. Riêng ông chi hội trưởng xoay sở thế nào hôm đó cũng có một kiểu ảnh ngồi cạnh tướng quân(ảnh đôi). Và ông cũng phóng to treo trang trọng trong phòng khách nhà mình! Ông ta lại in thêm nhiều kiểu khác gửi đến tặng tướng quân, trong đó có cả kiểu ảnh tướng quân... ngồi cạnh ông ta! Thiết nghĩ, vị tướng quân ấy chả cần tấm ảnh ấy để làm gì. Với danh tiếng một tướng quân trăm trận đánh trăm trận thắng thì thiếu gì những bức ảnh mang tính lịch sử để tướng quân lưu giữ làm kỉ niệm.

        Gần đây, có một lễ hội văn chương thơ phú tự phát ở Trung tâm Triển lãm Văn hoá - Nghệ thuật thành phố. Lễ hội này người ta mời tới một số đại biểu là nhà thơ nhà văn nổi tiếng tham dự. Ban tổ chức dành hai hàng ghế nhất, kèm bàn nước cho những khách quý ngồi. Hai hàng ghế, bàn kê sát sân khấu ấy có trải khăn bàn trắng, có hoa tươi và những chai nước khoáng bày trang trọng. Trong khi ban tổ chức còn đang đón khách, một ông «nhà thơ» cỡ cụm dân cư trông thấy nhà thơ T mà ông ta «quen trên ti vi» ngồi trên hàng ghế nhất. «Nhà thơ» cấp cụm dân cư bèn dúi chiếc máy ảnh vào tay người bạn đi cùng, chen lên tí tởn với một nụ cưới tươi hết cỡ để làm quen, vồ hai bàn tay bắt một bàn tay nhà thơ T như bắt tay bậc trên tuổi để xin được chụp một kiểu ảnh ngồi cùng, làm cho một vị đại biểu ngồi cạnh nhà thơ T phải đứng lên lé ra nhường ghế cho ông ta được toại nguyện. Tưởng ông ta chụp được một hai kiểu ảnh rồi thì dừng lại. Nổi hứng lên ông ta lôi tót nhà thơ T lên sân khấu bảo người bạn nháy thêm mấy kiểu nữa trong tư thế khoác tay, bá vai làm như nhà thơ T và ông ta là bạn thân từ thời xửa thời xưa! Hôm sau đã thấy ông ta tung lên blog của mình những tấm ảnh cầm tay bá vai nhà thơ T để nói với dân chơi blog rằng... tớ vừa chụp ảnh chung với nhà thơ T hôm qua. Thế giới mạng tưởng là thế giới ảo, nhưng không ảo tí nào đâu nhe!

        Ấy là những vị cao tuổi không còn việc gì vui, làm thể chỉ để cho vui... thế thôi. Nhưng những nhà doanh nghiệp thì họ có mục đích rõ ràng. Mục đích để trộ người cùng ngành cùng nghề «không cho chúng nó lấn át công ty mình!». Mặc dù CTTNHH của họ đã có thương hiệu trên thị trường với những giấy chứng nhận ISO liên tục hàng năm và hàng hộp huy chương vàng hội chợ này nọ kia khác, nhưng hình như họ vẫn không «sướng» bằng có bức ảnh chụp chung với một vị quan chức đầu tỉnh treo trong phòng giám đốc của mình. Cứ mỗi lần bầu bán lại, nhiệm kỳ mới có sự thay đổi lãnh đạo hàng huyện, hàng tỉnh là phòng giám đốc của các ông này lại thêm một bức ảnh như thế, mà các vị ấy vừa tìm cách bắt tay cho ra một kiểu ảnh!

        Sao bây giờ đến là nhiều người thích dựa bóng cầy tùng vậy?

                                                                  11/11/2011

                                                               Phú Cát


Thơ ba kâu

Published on 16:02, 11/12,2011

alt

1.

Dùng dằng

sông không muốn chảy

vì trăng dưới đáy

2.

Em cân ánh mắt

tôi đong làn môi

hai nụ cười tươi

3.

Tiếng gà sang canh

 rặng tre đưa võng

ru ngàn sao xanh

4

Mây bay qua núi

vướng phải ngọn cây

mây đành dừng lại

5.

Gió vây…

kín lối người về

bờ đê cỏ rối.

6.

Gió se sợi nắng

dệt  khăn ai quàng

bỏ mặc thời gian 

7.

Vầng trăng than thở

nỗi mình tròn khuyết

ai người nhận biết!

                 HXH


Thơ viết cho tháng bảy

Published on 13:54, 10/27,2011

Hẹn lại Bát Tràng

Sông Hồng chảy như lửa cháy

anh nhìn có khói bay lên

qua cầu Thanh Trì anh thấy

lửa hừng trong đáy mắt em

 

bờ đê nửa lạ nửa quen

có em Bát Tràng chắp cánh

la đà theo ngọn gió chen

vòng xe định vào phố sứ

 

bất ngờ cơn mưa gây sự

chặn ngang lối rẽ về làng

tạm quán bên đường anh tránh

đành thôi hẹn lại Bát Tràng


Tháng bảy

Trăng nhạt hoét như thời ta mười bảy

cả trời sao cứ thế chín sai mùa

đêm sắp tàn còn mọc nữa Tua Rua  

sao mai tỏ bơ vơ mờ lối lạc

 

vọng trời đêm kêu sương tiếng vạc

giật mình giường cứng, gối chăn

chạn bát, đũa thìa gọi nhau tỉnh thức

bức mành thưa cuốn vội nỗi băn khoăn

 

anh ngồi ngắm trăng nhoè mưới sáu

mai mười bảy, em còn nữa tròn trăng

cơn sấm dậy xô mưa vào góc tối

vườn quả hồn anh nát bét ngâu vầy!

 

Khúc nhão ngày Ngâu

Cơn gió đẩy chiều xanh mơ màu gió

sóng Hồng Hà gấp gáp thả hồn trôi

lòng bỏ ngỏ bờ hoang mềm lối cỏ

mây sa đà về miền ấy sa mưa

 

trăng mùa lũ, liềm trăng căng mùa lũ

rót đầy sông lênh loãng chảy như  thừa

em tắt bếp bờ yêu lòng tịnh đợi

anh vội vàng sợi chỉ rối tình xưa

 

bùng binh nhớ thả neo dài dải nhớ

xe thời gian cuống quýt sục sôi bừa

có niềm tin gửi bờ hoang cỏ áy

ráng vàng thu tu bạ đám m ây thưa

 

lòng thầm ước đừng ai giăng lời hứa

chút vàng phai nhuộm hoàng yến mù sa

đôi bờ lở, tình si đôi bờ lở

sóng nhom nhem vỗ quá độ thật thà

 

chuông chùa đổ rung cầu vồng bảy sắc

hàng cây run, con phố lẻ lối gày

tiếng sấm xeo, tháng bảy thầm lại nhắc

anh thôi đành ngâm khúc nhão ngày ngâu.

                                   Tháng 8 -Tây

                                Hoàng Xuân Hoạ


Mái nhà xưa qua bài thơ “Lời ru dưới mái rạ” của Nguyễn Nguyên Bảy

Published on 22:19, 10/19,2011

        Cái mái rạ dai dẳng úp lên cuộc đời người nông dân t đời ông cho chí đời cháu ngay từ khi cất tiếng chào đời cho đến lúc về với đất. Mái rạ nghèo ấy, bây giờ không còn thấy ở các miền quê Bắc bộ nữa, nhưng cách đây trên chục năm, ở thế kỷ trước chỉ cần đi ra khỏi cửa ngõ thủ đô chừng 5- 10 cây số là gặp nhan nhản những mái rạ lấp ló sau lũy tre làng mờ xa, hiu hắt buồn nằm hai bên đường quốc lộ số 1, quốc lộ số 5 dội hoang vào mắt, tầm nhìn của chúng ta. Và cái làng, tên chung để chỉ cấp hạ tầng hành chính của một xã - nói hẹp; nói rộng thì cái làng thuộc về một huyện, rộng hơn - nó cũng thuộc một tỉnh, một nước (làng nước), cho dù ta đi đâu, ở đâu trong tâm hồn mỗi người luôn có một cái làng canh cánh mang theo trong lòng. Cái làng của lòng mình ấy, gồm cây đa, sân đình, mái chùa cong cong những đầu dao hình rồng, có lời ru của mẹ, của bà và của chị hằng “Ru (ta) dưới mái nhà” rơm rạ xưa ấy:

- “Nơi đâu những lời ru
Nhiều bằng làng ta nhỉ

Dưới mái nhà rơm rạ
Tâm sự ru vơi lòng”

Dưới mái rạ thời chiến tranh trai tráng “còn ai đâu”, trơ lại phụ nữ thui thủi nỗi chồng đi biền biệt ngay từ tuần trẳng mật bỏ lại bao công việc đồng áng, việc nhà cho người phụ nữ gánh vác đến đận “biếng cả việc gương lược” làm đẹp cho mình. Mà chồng đi vắng thì người phụ nữ làm đẹp mà chi? Làm đẹp cho ai ngắm? Những đêm mưa phùn gió bấc, ôm con, ru cho con ngủ để vơi nỗi lòng thương nhớ người xa. Lời “Tâm sự ru với lòng” ấy:  

LỜI RU DƯỚI MÁI NHÀ

Nơi đâu những lời ru
Nhiều bằng làng ta nhỉ
Dưới mái nhà rơm rạ
Tâm sự ru vơi lòng.

Em biền biệt xa chồng
Ngay từ tuần trăng mật
Chị biếng cầm gương lược
Trai làng còn ai đâu.

Lẩm bẩm những nguyện cầu
Bà lần xin tràng hạt

Đừng bắt cháu bà chết
Tuổi dại dưới trời bom.

Chẳng sáng nào bến sông
Bóng cha không còng gậy
Tay cha rối rít vẫy
Bưu tá cười không thư.

Tất cả những lời ru
Cối lòng nước mắt nén
Lúa vẫn hai mùa chín
Khoai vẫn hai mùa trồng.

Cò lội trắng mom sông
Sông mang lời ru chảy
Những câu ru nhang cháy
Dưới trời bâng khuâng hương.

                 Nguyễn Nguyên Bảy

                (Một vài Trống canh)

Đọc một hơi hết bài thơ để cảm và thấm. Đọc lại lần hai, lần ba để ngấm. Ngấm vào cảm xúc bao nhiêu thêm lòng day dứt, da diết thương về một thời; thương thầm những thân phận vọng phu bằng xương bằng thịt, hoá đá niềm khát khao dưới những mái nhà tranh  một lòng thuỷ chung ngóng đợi. Dưới mái nhà rơm rạ đơn sơ, còn nữa, những lời:

Lẩm bẩm những nguyện cầu

Bà lần xin tràng hạt”

Và:

Chẳng sáng nào bến sông
Bóng cha không còng gậy
Tay cha rối rít vẫy
Bưu tá cười không thư.

Thế đấy, đất nước ta đã có thời như thế đấy. Người vợ xa chồng nhớ nhung ôm chặt con vào lòng, gửi lời ru vào đêm thanh vắng, những người bà thì hằng đêm lần tràng hạt lẩm bẩm nguyện cầu trời Phật: Đừng bắt cháu bà chết/ Tuổi dại dưới trời bom” . Người cha thì bóng còng như cây gậy sáng sáng ra bến sông chờ bưu tá đi qua xem có  thư con từ chiến trường gửi về. Khi gặp thì “Bưu tá chỉ cười không thư”. Mong bức thư con gửi vượt ngàn dặm núi sông, khi đến được tay người cha có khi phải năm, bảy tháng thì tình hình đã khác. Với họ, có còn hơn không! Hy vọng và hy vọng, người nông dân dưới mái rạ một thời từng đau đáu đợi chờ niềm hy vọng như vậy, vì đó là cục cưng - cục vàng của đời họ. Nhà thơ không nói quá, tôi, người đọc thơ hôm nay cũng không liên tưởng quá ra mà thực tế trong tâm trạng người cha người mẹ Việt Nam nào chẳng thế, con cái là cả một tài sản, ví với cục vàng là còn nhỏ, phải là núi ngọc mới đúng tinh thần, đừng coi thường nhau, “con vua vua yêu dấu/ con tôi xấu tôi yêu”. Những người trẻ bây giờ “ru con” bằng băng đài, bằng đĩa CD rót lời ca sĩ ngọt ngào vào tai trẻ nên họ biết gì về lời ru buồn ngày xưa?

        Nhà thơ Nguyễn Nguyên Bảy có nhiều bài thơ viết về người mẹ người cha Việt Nam bằng những khúc ru khá hay: “Sông cái mỉn cười, Bài ru trằn trọc, Cuối ru, Lời ru dưới mái nhà…” mênh mang nét buồn nhân văn. Tôi chủ quan nói vậy ai không tin thì tìm đọc  “toà núi” thơ Nguyễn Nguyên Bảy in năm 2010 thì thấy.

                                                           (Một ngày thu tháng chín)

                                                                  Hải Xuân


Chí Phèo đi dự festival (Tiếp theo)

Published on 16:12, 09/16,2011

Ông Ma đơ le đang mở đại tiệc để chiêu đãi các đại biểu thế giới đến dự Pét ti van những nhân vật nổi tiếng. Nghe tin Lỗ Toàn Nhi (Lỗ Thị), đại biểu thứ hai của TQ không mời mà đến làm ông ngớ người không hiểu có sự cố gì xảy ra, hay tại thư ký đánh máy nhầm lẫn, mời một hóa hai? Ông quay sang hỏi viên cố vấn văn chương của mình xem Lỗ Thị người Trung Quốc là nhân vật do ai sáng tạo ra. Viên cố vấn của ông trình tự báo cáo: Lỗ Thị là nhân vật trong tiểu thuyết Báu Vật Của Đời do nhà văn Mạc Ngôn “sinh hạ”. Bà tiêu biểu cho mẫu người phụ nữ Trung Quốc nhẫn nhịn, chịu đựng những tập tục cổ hủ mấy ngàn đời của cái đất nước trên một tỉ người. Suốt từ Đông Chu Liệt quốc, sang Hán - Sở tranh hùng, đến Tam Quốc tranh bá, Chinh Đông Chinh Tây các nghìn năm trước. Thế kỷ 20 thì thập kỷ nọ nối tiếp thập kỷ kia chiến tranh, tranh dành quyền binh liên miên. Nghèo khổ, đói khát… mọi cay đắng ở đời Lỗ Thị đều nếm trải và vượt qua. Chỉ để dành vị trí chủ gia đình thì việc này bà lại làm sai nhân cách của người vợ Trung Hoa chung thủy. Bà lang chạ với bảy người đàn ông để sinh ra bảy đứa con… vân vân và vân vân…”  Nghe xong, ông cho rằng Lỗ Thị là nhân vật đáng được mời lắm chứ. Ông  đứng dậy xin lỗi các thực khách cho ông vắng mặt 15 phút. Ông nghĩ, mời một mình AQ là không khách quan. Đáng ra nước lớn như Trung Quốc phải mời người ta một đoàn vài chục người mới xứng với nền văn chương đại nhẩy vụt những chương, hồi vòng vo tam quốc lê thê. Trong khi Đông ki sốt của Tây Ban Nha còn nằm trong bụng mẹ thì người Trung Hoa đã quảng đại thần thông biến hóa ra Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới, Sa Tăng với những yêu rừng, quỷ biển đi mây về gió khiến người lương thiện đụng đâu là gặp ma quái ngăn đường, chặn lối tới đó! Pét ti van ở đâu chẳng có sự ăn theo. Ông nhớ hồi du lịch sang nước S tham dự Pét ti van một cung đình cổ, người ta Pét ti van trăm thứ bà giằn mà vẫn hay; hoành tráng đến cả bát bún bò giò heo bán trên vỉa hè. Là đàn bà mà Lỗ Thị dám tự túc mọi chi phí cất công tới tận đây dự thì trước nhất phải ưu tiên phụ nữ cái đã. Ma đơ len ngay lập tức tự lái xe ra tận chân cầu thang máy bay nói lời xin lỗi và đón Lỗ Thị về phòng tiệc. Ông cho bày một bàn tiệc, món nào cũng bốc hơi xào nấu nóng hôi hổi, cùng ban chấp hành lầm thời tiếp Lỗ Thị rất trịnh trọng.      
        Ở Việt Nam Trạch Văn Đoành nghe tin Lỗ Toàn Nhi người Trung Quốc tự túc đi dự Pét ti van. Dòng máu con Rồng cháu Tiên bỗng nhiên nổi sĩ diện đùng đùng đỏ hồng sắc mặt. Trạch rút ngay cái máy điện thoại di động bấm nhoay nhoáy gọi cho đàn con, cháu, chắt, chút, chít đang là những doanh nhân buôn đất nông nghiệp mà giàu, nhờ chúng thuê cho máy bay để đi Pét ti van. Hàng xóm thấy vậy khuyên Trạnh Văn Đoành chớ dại mà đi. Bởi Trạnh làm sao nổi tiếng bằng Chí Phèo. Sang đấy người ta biết mình là ai? “Ai nói gì, mặc họ”. Trạch “cứ làm theo ý” (Nam cao) mình.  Những lời gàn không làm Trạch Văn Đoành nhụt chí. Trạch dướn người vỗ đánh bịch một cái vào chính giữa ngực, nói:
        - Trạch này không nổi tiếng bằng Chí Phèo nhưng thành tích với nước Pháp thì Trạch Văn Đoành ta có đầy mình. Trạch này từng sang đánh giặc hộ nước Pháp hồi thế chiến thứ nhất, cái mề đay nước Pháp tặng thưởng còn giữ nguyên đây!
Vừa nói, Trạch Văn Đoành vừa móc túi ngức lôi ra một gói nhỏ, lẩn mẩn cởi mấy lần dây buộc, giơ cao cái mề đay treo trên đầu ngón tay lủng lẳng cho mọi người chứng kiến tận mắt. Lại chạy vào nhà mở tủ trưng bày bảo vật gia đình đưa ra cái áo “ba-đơ-xuy sắc chó gio”(Nam Cao), cái mũ chào mào, đôi giầy xăng đá còn nguyên nhưng hàng đinh chống trượt dưới đế, cái dây xanh tuya rông trổ những lỗ tổ ong tròn kín từ đầu đến đuôi cái dây, khi từ Pháp về Trạch Văn Đoành giữ được vật quân trang này mang về làm kỷ niệm:
- Các người thử nhìn xem Trạch Văn Đoành có xứng đáng được ưu tiên hơn Chí Phèo, AQ và mụ Lỗ Toàn Nhi Không? Những vật chứng này mà không còn giá trị đi dự Pét ti van ở đảo Hòa Bình thì… Trạch Văn Đoành ta bỏ tiền ra mua một xuất để đi. Chức nọ chức kia thiện hạ còn bỏ tiền ra mua tới tới để thăng tiến nữa là mua xuất dự Pet ti van vui vẻ. - Muỗi!  
        Thấy Trạch Văn Đoành dẫn ra “nhân chứng, vất chứng” rõ rành rành những thành tích “kháng chiến” của mình làm cho đám người làng hay gàn bát sách ngẩn tò te, im thít để Trạch Văn Đoành muốn đi đâu thì đi, không ai bàn ra gì nữa. Hôm sau Trạch Văn Đoành chân thượng đôi giầy xăng đá, mình khoác cái áo “ba đờ xuy sắc chó gio” một mình lên đường đến đảo Hòa Bình dự Pét ti van làm cho dân làng Vũ Đại từ già cho chí trẻ xanh mắt mèo.
        Nghe tin Trạch Văn Đoành tự túc đi dự Pét ti van. Những nhân vật tiểu thuyết nổi tiếng một thời như Tám Bính, Chị Dậu, Xuân Tóc Đỏ cũng muốn lắm. Hèm một nỗi Dậu, Bính, Xuân không đủ khả năng về tài chính. Con, cháu các nhân vật này vẫn “con xã chùa đi quét lá đa”, chẳng giàu có gì hơn ngày xưa là mấy thành thử muốn chỉ để… mà muốn cho đỡ thèm.
Năm 1945, Dậu cũng nông dân vùng lên, vác đòn càn đi phá kho thóc của Nhật, quan lại, địa chủ đem chia cho người nghèo. Đi cướp chính quyền, sau đó hoạt động trong vùng tề cho đến ngày kháng chiến thắng lợi. Cải cách ruộng đất Dậu lên làm chủ tịch xã đôi năm. Vì trình độ Văn Bố Cu Hóa mới bình dân học vụ, không thể kham nổi. Cấp trên cho đi “bồi dưỡng” nâng cao trình độ ở trường Bổ - Túc - Công – Nông. Nhà Dậu leo người nên Dậu không đi “bồi dưỡng” văn hóa đươc. Ít văn hóa, không đủ trình độ lãnh đạo ba làng một cái xóm trại nên Dậu đành rút lui về đi cấy... lấy công điểm hợp tác xã dễ ăn hơn làm chủ tịch ủy ban xã thời còn “cơm nhà vác tù và hàng tổng” nên gia đình Dậu nghèo vẫn hoàn toàn… nghèo ngặt!
Tám Bính, khi cách mạng thành công đâu đó rồi mới biết, tiện tàu hỏa cùng Năm Sài Gòn theo đoàn quân Nam Tiến vào Nam tiêu diệt đế quốc sài lang. Do chỉ còn một bàn tay không thể bóp cò súng. Định đi theo để cứu thương hoặc làm chân anh nuôi. Nhưng cứu thương và chân anh nuôi cũng không nổi khi chỉ với một bàn tay năm ngón, dù Bính rất nhiệt tình cách mạng. Bính đành ở lại bán nước rong ở cửa một ga xép. Năm Sài Gòn về Nam chiến đấu và hy sinh anh dũng trên quê hương yêu dấu của mình. Bụng cũng muốn đi xuất ngoại một chuyến cho biết đó biết đây nhưng Bính, không đủ khả năng kinh tế tài chính đành nuốt nước bọt mà thèm, ngồi nhà hướng về đảo Hòa Bình để hưởng ứng bằng… tinh thần sẵn sàng đóng góp tràng vỗ tay cổ vũ từ xa.
Xuân Tóc Đỏ tham gia cướp chính quyền tại một quận nội thành HN; kháng chiến chín năm đi bộ đôi, bị thương về hưởng chế độ thương binh, giữ chân bảo về ở một cơ quan cho đến tuổi nghỉ hưu về tậu chiếc xe ba bánh (xe Lam) đứng tên đăng ký cho thằng con đi tham gia giao thông vận tải hàng hóa còn mình xin làm chân bảo về cho một sân tennis. Nói chung, kinh tế nhà Xuân Tóc Đỏ chỉ vặt mũi đút lỗ miệng vừa xoẳn, tiền đâu mà nghĩ đến Pét ti van!
- l ại dẹp!     
Trạch Văn Đoành được đám con, cháu, chắt, chút, chít tài trợ tiền cho đi. Trạch thuê mình một chiếc máy bay du lịch bay đến đảo Hòa Bình. Hôm lên đường, Trạch dậy sớm ra chợ mua đôi móng gió, lại vào siêu thị mua một túi bánh mì hảo hạng nhãn Ma de in Việt Nam thủ theo để làm quà biếu ông thị trưởng. Trạch nghĩ bụng: Chắc ông Ma đơ Len khoái ăn bánh mì. Khoái, nên thuở hàn vì ông ta mới đi ăn trộm bánh mì? Đôi mong giò, đem theo phòng khi bên đó họ cho xem diễn tuồng còn có cái mà quăng lên tặng cho đào, kép hát.
        Ma đơ len đang tiếc tùng, chúc tụng nhau vui vẻ. Lại có tin báo, Việt Nam có nhân vật thứ hai “tự lực cánh sinh” mọi chi phí đến dự Pét ti van. Người đó xuống máy bay, đã tự thuê khách sạn riêng để ăn, nghỉ tiêm tất, đang chờ ngoài cửa tòa thị chính của ông.
Ma đơ len lại nghĩ: Thôi thì vì phép lịch sự truyền thống của người Pháp xưa nay với bằng hưu bang giao. Thêm đũa thêm bát, có thêm mâm đâu mà sợ tốn kém. Mà thế kỷ 21 rồi, chuyện ăn uống có gì là quan trọng. Người ta đường sá xa xôi, bỏ ngày bỏ buổi, bỏ tiền bỏ của cất công đến tận đây là vì người ta muốn cái Pét ti van nhà mình tổ chức lần đầu thành công rực rỡ, đâu phải người ta đến vì miếng ăn miếng uống!
- Ra mời ông ta vào!     
Lệnh của Ma đơ len ban ra, hai người tiếp tân một nam, một nữ trịnh trọng ra đón, dẫn Trạch Văn Đoành bước trên thảm đỏ tiến vào phòng đại tiệc. Trạch diện nguyên bộ củ thời lính chiến 1914 - 1919 thế kỷ trước. Mặt Trạch vênh vênh với “đôi lưỡng quyền nhô ra như gây sự với người ta” . “Cái nhìn tự đắc như cái nhìn của một kẻ có thể nhắc người ta lên như nhắc một cái lông” (Nam Cao – Đôi móng giò). Đi được nửa đường thảm đỏ, Trách đưa tay lên lột mũ chào mào “sắc chó gio” oai hùng vẫy vẫy mọi người đang đổ dồn mắt về phía Trạch, để trơ ra cái đầu “tiền văn minh hậu sư cụ”. Thấy Trạnh oai vệ quá, Ma đơ len vội vàng nhao tới bắt tay. Đông ky sốt tưởng đó là kẻ tình định đến để cướp nàng Đuyn xi nê của mình, vội quát gọi Xăng sô đưa cho cây giáo! AQ và Lỗ Toàn Nhi thấy Trạch Văn Đoành đến, được hoan nghênh ầm ầm, cả hai tỉnh bơ vờ như không trông thấy, nghe thấy chi hết. Mỗi người cầm một ly rượu chạy lại chỗ Chi Chi Khốp, Đông Gioăng, Sa Ca Lét (Scarlett) chạm cốc làm quen ra điều ta đây người cường quốc, bang giao với với người cường quốc.
Chí Phèo thấy có thêm đồng hương sang dự, phấn khởi ra mặt, tơn tớn sấn tới vồ lấy tay Trạch Văn Đoành để liên kết đồng minh cho có thêm vị thế, liền bị Trách hất tay ra không thèm bắt. Chí Phèo tưởng Trạch quên mình, hai tay vồ lại tay Trạch lắc lắc mạnh:
- Ơ, kìa anh Trạch! Chí đây mà! Chí Phèo làng Vũ Đại ta đây mà anh Trạch quên Chí rồi sao?
Trạch phải hất mạnh lần nữa làm tay Chí Phèo bật tung ra. Trạch quát:        
- Hỗn xược! Thứ bậc nhà ngươi đâu đáng bắt tay ta? Chẳng gì ta cũng có chức sắc ở làng, còn mi chỉ là hạng thứ dân củi rều củi mục, bèo bọt trôi sông không ai thèm vớt. Dựa vào cái mác bần, cố nông mà lên đời được mấy chục năm nay không chịu tu tâm sửa tính lúc nào cũng rượu chè be bét. Ỷ vào cái chức đội trưởng sản xuất hợp tác xã để ăn bớt ăn xén bắp ngô, lượm lúa của bà con xã viên mà không biết xấu hổ - Xéo!
Nghe Trạch nói vậy, Chi thấy cay cay sống mũi, với tay cầm lấy chai rượu trên bàn tiệc gõ gõ vào không khí:
- Toạc cái móng heo cho anh biết nhé! Đây là đảo Hòa Bình tự do dân chủ chứ không phải làng Vũ Đại ao tù đâu mà anh đòi cấm chợ ngăn sông! Chẳng qua Chí này muốn có đồng hương cho vui chuyến đi chứ Chí này đâu cần cái bắt tay vớ vẩn với anh! Chí này đến trước còn được lần lượt bắt tay ngài Ma đơ len, Rô bin sơn, Đông ky sốt, AQ, Đông Gioăng… đàng hoàng hẳn hoi. Cái chức chánh cựu “xây dựng” bằng mấy mâm cổ khao làng thì giá trị quái gì ở đây mà rộn cả lên cái đồng ba xu, ra điều ta oai vệ…!
Mây người tiếp tân thấy vậy vội vàng chạy tới lôi mỗi người ra một bàn ấn vai bắt ngồi, rót cho mỗi người một ly rượu vang gí vào tay:
- Mời ngài nâng cốc!
- Mời ngài nâng cốc!
Chí và Trạch được chạm cốc với hai nhân viên tiếp tân cũng lấy làm hãnh diện ra mặt. Sau đó không khí buổi tiệc được khởi động trở lại tưng bừng. Trạch chợt nghĩ tới túi bánh mỳ Ma đơ in VN mang theo để ở khách sạn, bèn quay về đem đến biếu Ma đơ len. Ma đơ len nhận cái túi, bảo ngưởi thư ký mơ ra xem. Viên thư ký mở túi lôi ra chục chiếc bánh mỳ để lên bàn. Thấy thế Ma đơ len hơi tái mặt, nhưng vẫn bình tĩnh, phớt ăng lê mỉm một nụ cười chẳng ra buồn cũng chẳng mấy vui, rồi mỗi tay cầm đôi chiếc bánh mỳ giơ cao, với vẻ mặt đầy tự tin, nói:
 - Thưa các thân hữu từ Năm Châu bốn biển có mặt tại đây. Ma đơ len tôi cũng vì bánh mỳ mà bị tù tội. Cái thế giới này cho đến giờ vẫn vậy, vẫn kẻ ăn không hết người lần không ra. Thập kỷ đầu tiên thế kỷ hai mốt có tí sướng hơn xưa chút chút, nhưng các đô thị thì cứ phình ra, ruộng đồng thì bị co hẹp lại, nơi này nơi kia vẫn còn người đói khát, oan ức, khổ đau. Oan ức không biết kêu đâu cho thấu, đành ngồi oán trời trách đất. Oán trời trách đất không thấu đành ngậm bồ hòn làm ngọt với nhau. Chúng ta, hôm nay họp mặt ở đây để chuẩn bị cho một Pét ti van. Cũng là để bàn nhau làm sao cho có bánh mỳ và pa tê gan! Bánh mỳ và pa tê gan muôn năm! Những người dân lương thiện có cuộc sống đủ ăn muôn năm!  
  
                                                                                      H X H
 
Phần I trang trước:
http://haixuan.vnweblogs.com/post/11218/269556


Lễ hội tôn vinh thơ hay lễ hội diệt thơ?

Published on 07:36, 09/06,2011

Nghe tin, ngày 3 tháng 9 năm 2011, ti số 2, phố Hoa Lư, Hà Nội diễn ra Lễ hội thơ lục bát, “sự kiện văn hoá đặc sắc, độc đáo và nhân văn!”. Tôi vội xếp mọi việc nhà lại để đi… xem.

Khi thấy tôi hỏi mượn thằng cháu nội cái xe máy, bố mẹ cháu can: - “Trời sắp mưa, ông đi tắc xi cho an toàn”. - Các con nói thế nhưng nghĩ một mình “cưỡi” cả một cái tắc xi, tiếc tiền, nên cứ xe máy mượn tôi đi. Đến nơi, thấy Trung tâm Triển lãm Văn hóa nghệ thuật Việt Nam đông vui chật kín dưới sân, chật kín trên các thềm hè nhà triển lãm.

 

alt

Một sân khấu rộng có mái che, cả sân khán giả ngồi xem cũng có chiếc dù lớn che cho khán giả khỏi ướt mưa. Cái dù, dù có đôi ba chỗ “sứt chỉ đường tà” nhưng vẫn không hề dột, hắt mưa là mấy, cứ che thêm tờ báo lên đầu, hay mảnh bìa các tông vẫn đứng xem ngon lành, thấy kệ ông trời gieo mưa!

Ới giờ ơi là giời ơi, các cụ tổ nền thơ lục bát ở đâu về đây mà chứng kiến việc con cháu mở lễ hội để tôn vinh… mình. Chỗ này một quán thơ, góc kia một quán thơ trông như quán hàng nước, quán hoa quả, lại có cả quán bày trầu cau. Sách thơ bày trên những cái bàn hàng đống lớn nhỏ. Cuốn in có nhà xuất bản nọ kia hẳn hoi, có cuốn in vi tính, copy, bìa được chế bản trên máy vi tinh in màu loè loẹt, nhem nhuốc rất phản cảm. Nội dung bên trong thì đúng là thứ thơ… lục bát hò vè… đọc qua thấy họ kính chả bõ phiền, thêm lo cho thơ lục bát đang bị dân "đầu lậu" lợi dụng để “buôn thơ” từ những người cao tuổi thích danh, thích nổi tiếng, đổ xô nhau tham gia một CLB thơ trên diện rộng đến trên 6000 người!

 Thực tình, không dám bỉ báng cái lễ hội này nhưng xem ra có gì đó hơi bị ai ái, đồng cô, đồng cậu một cục! Nhiều “đội văn công  thơ” từ các tỉnh cơm đùm cơm nắm thuê ô tô kéo nhàu về. “Phục chế” mấy bộ quần áo xanh, đỏ, tím, vàng trông như cánh cào cào, khắn vấn, khăn đóng vàng, xanh, đỏ cả vài cô bé áo quần mớ ba mớ bảy được người lớn đẩy đít lên sân khấu quay múa cho thêm hoành tráng… và họ thưởng thế là nghệ thuật, là lục bát thơ ?! Một “ông đồ” quốc ngữ “dị nhân” kè kè bên cạnh một chú tiểu đồng đầu trọc còn lại ba chòm tóc ngủ gật chờ ông nội bán những tập thơ in vi tính và viết thư pháp quốc ngữ bán “lộc” cho các “thi huynh thi hữu” dự hội(!) Đúng tinh thần, đây là hội chợ thơ chứ đâu phải một lễ hội?   

        Thôi thì đình đám, hội hè một buổi cho hứng phấn tinh thần các cụ ông, cụ bà để các cụ sống vui sống khoẻ lấy một ngày giữa thủ đô ngàn năm văn hiến cũng chả sao!     

Điều đáng bàn ở đây là giải thưởng cuộc thi thơ  “Lục bát ngàn năm hồn Việt, Tân Mão – 2011”. Ban tổ chức phát động cuộc thi để hưởng ứng cuộc lễ hội. Hạn nộp bài từ ngày 10 - 5 - 2011, đến 31 - 7 – 2011. Trong vòng hơn hai tháng - bằng 82 ngày cho một cuộc thi thì làm sao có được thơ hay để mà trao giải nhất 10 triều; hai giải nhì, mỗi giải 5 triệu; 5 giải ba, mỗi giải 2,5 triệu và sáu giải tư, mỗi giải 1 triệu?

Thi cử không có gì là sai, hay và đáng động viên phong trào quá đi dù giải được trao cho những bài chưa thật sự là thơ, kể cả giải nhất và giải nhì. Điều đáng bàn ở đây là bài thơ được trao giải ba. Bài “Mảnh đời”. Một bài thơ sai luật, sai cả ngữ nghĩa mà ban giám khảo cũng chấm giải ba thì kể cũng hơi là lạ lo lo cho thể thơ lục bát sắp trở thành quốc thơ!

Bài thơ đó như sau:

Mảnh đời

                (Bài được giả ba)

Ông lão già, ghi – ta xưa

Đánh rơi tiếng nắng tiếng mưa trên đường

Chờ xin một ít tình thương

Bẽ bàng cho nhận nhún nhường người qua

Trần gian gần, thiên đường xa?

Ăn mày lạc giữa phố nhà cao sang

Ngày qua nhón gót khẽ khàng

Về đâu mảnh lá lang thang không mùa

Ước gì hoá kiếp còng cua

Chiều quê nghe tiếng chuông chùa vẫn vui

Ở nơi phố xá dập vùi

Lão đi thế thái ngậm ngùi đi theo

Ghi – ta khổ, ông lão nghèo

Ho lên mấy tiếng tẳng teo không cùng

Tôi nghe phím lạc dây chùng

Giữa trưa phố bỗng trập trùng đổ mưa.

    (Theo báo Người cao tuổi, số 953 – 954, ra ngày 2- 9- 2011)

Trong thể thơ lục bát, tiếng thứ tư, cả câu sáu và câu tám bao giờ người làm thơ cũng phải gieo vần trắc, nếu gieo vần bằng là phạm, phá luật. Thì ngay câu sáu đầu tiên bài “Mảnh đời”, chữ thứ tư tác giả lại gieo vần bằng: “Ông lão già, ghi - ta xưa”. Các câu sáu  thứ 5, thứ 9, thứ 13 đều gieo vần bằng như vậy? (Chúng tôi gách đít các câu phạm luật ở bài thơ dẫn bên trên).

Thử bàn về ngữ nghĩa của cặp lục bát thứ hai:

- “Chờ xin một ít tình thương

Bẽ bàng cho nhận nhún nhường người qua”

Sao rứa? Ông lão đánh đàn ghi ta, hát xẩm để “Chờ xin một ít tình thương” thì rõ rồi. Còn người cho, người nhận thì ai là người “nhún nhường” trong việc này? Người cho nhún nhường, hay người nhận nhún nhường? Tôi nhún nhường cho anh, hay anh nhún nhường xin tôi bố thí? Nghĩa của hai tiếng nhún nhường “chỉ sự hạ mình một chút để tỏ ra khiêm tốn trong giao tiếp”, tác giả đem đặt hai tiếng nhún nhường vào cắp lục bát này nghe không ổn cả về ngữ nghĩa lẫn ý tứ của câu thơ.

        Về cặp lục bát thứ năm:

        - Ước gì hoá kiếp còng cua

        Chiều quê nghe tiếng chuông chùa vẫn vui

Đồng ý rằng thơ là phi thực, là ảo, là vừa như có vừa như không. Một nhà lý luận văn học từng luận rằng:  “Trong tiếng Anh, thơ được xếp vào loại phi hư cấu (non-fiction). Trong tiếng Việt, thơ thường gắn liền với mộng, với mơ, nghĩa là với thế giới của tưởng tượng và hư cấu.
Vậy, thơ ở đâu?
Thơ, theo tôi, không thuộc về hiện thực cũng không thuộc về hư cấu. Thơ chỉ là một cách ảo hoá hiện thực. Nhận định này bao gồm ba khía cạnh: thứ nhất, thơ là một thế giới ảo; thứ hai, thế giới ảo ấy bắt nguồn từ hiện thực; thứ ba, dù bắt nguồn từ hiện thực, thế giới ảo ấy sẽ không tự động quy chiếu (refer) trở lại hiện thực…”(NHQ).

        Cặp lục bát thứ năm, tác giả viết  “Ước gì hoá kiếp còng cua”. Còng cua, tức là cái càng của con cua. Càng con cua chỉ để cho con cua cắp mồi đưa vào miệng, và cắp để tự vệ khi bị kẻ khác tấn công. Còn việc nghe tiếng chuông chùa phải là nhiệm vụ của cái tai con cua mới đúng về sự “ảo hoá hiện thực”...

        Về cặp lục bát thứ sáu:

        - Ở nơi phố xá dập vùi

        Lão đi thế thái ngậm ngùi đi theo

Hai tiếng thế thái (nhân tình thế thái), nguyên nghĩa là: “lòng người và thói đời, hoặc nỗi đời…”. Xét cả nội dung bài thơ thì có gì, có ai khinh miệt, kỳ thị ông lão hát xẩm này đâu mà gieo chữ “thế thái” vào? Rất khiên cưỡng! Trách gì, nhà thơ hậu Bút Tre Nguyễn Bảo Sinh đã… Bút Tre hai câu:

- Ai muốn đuổi khách khỏi nhà

Đọc thơ được giải họ ra tức thì.

Định tôn vinh thơ, định mở hội hàng năm để mong Unesco công nhận là di sản văn hoá phi vật thể mà đi trao giải cho một bài thơ sai sót về cách thể hiện như vậy thì... chỉ bịt mắt được mấy ông Unesco người Tây mù chữ Việt mà thôi. Nếu họ ký quyết định cộng nhận.

                                                                                                                                                                                       HXH

Đã đăng trên trang web văn chương việt:

http://www.vanchuongviet.org/vietnamese/tulieu_tacpham.asp?TPID=16642&LOAIID=35&LOAIREF=5&TGID=1898


Cúc thu

Published on 11:41, 08/26,2011

alt

 Mây vàng chờ dáng cúc thu

trăng buông dải lụa vuốt mù heo may

sông gày bờ trả bờ vay

trời xanh lúng liếng mắt đầy, môi vơi

khúc ru sải cánh lưng trời

cân bằng ngọn gió nói lời vu vơ

hình như ai đó giả vờ

giọt sương nhàn nhạt gõ hờ lẻ rơi

chắp say một chút bồi hồi

rũ ngày vừa cạn rong chơi cánh buồm

chất đầy cánh mỏng chuồn chuồn

lăng loàn mắt bão gọi hồn lá bay

chém vè nát nợ chờ say

ép dòng sông cạn xanh gày dáng tre

đê mê mây gió hội thề

vỗ hoang bỡ nhớ trở về ngày xa

năm xưa như đếm thật thà

neo con thuyền mắt vượt qua ảo mờ

khẽ nâng vạt áo mộng mơ

lấp đầy phố nhớ kén chờ cúc thu

cánh chim lạc lối bay vù

sang canh gà gáy mù u nỗi mình.

 

                               HXH


Tản mạn về 500 bức tượng La Hán chùa Bái Đính

Published on 09:25, 08/03,2011

 Sau khi thăm ba toà điện: Điện Phật Bà Quan Âm, điện Thích Ca Mâu Ni, điện Tam thế và tượng đài Di Lặc trên đỉnh núi Đính, chúng tôi quay lên quay xuống hai bên hành lang để chiêm ngắm 500 pho tượng La Hán bằng đá xanh còn nhám trắng phấn đá, bởi chưa kịp bắt nước thời gian để trở nên bóng xanh như đá núi Thiện Dưỡng, Ninh Vân; trừ những chỗ du khách xoa tay để cầu phúc, để lấy khước ra. Trên đường về cứ thấy lòng rộn rạo với những băn khoăn. Nếu được so sánh thì chúng tôi thích những bức tượng La Hán chùa Tây Phương, huyện Thạch Thất, Hà Nội hơn. Tượng La Hán chùa Tây Phương có từ cách đây 3- 4 trăm năm, nhưng cha ông chúng ta đã rất có ý thức về truyền thống văn hoá dân tộc. Các cụ đã biết cách thổi hồn văn hoá Việt vào từng dáng tượng, nhân vât tượng: “Có vị mắt giương, mày nhíu xệch/ Trán như nổi sóng biển luân hồi/ Môi cong chua chát, tâm hồn héo/ Gân vặn bàn tay mạch máu sôi…” (thơ Huy Cận).

A La Hán là sự tích của đạo Phật. Sự tích về những người tu hành đạt chính quả (đắc đạo) được lên Niết bàn thành Phật nhưng họ đã không lên, mà ở lại trần gian để tiếp tục truyền bá đạo Phật phổ độ chúng sinh thoát khỏi kiếp nạn của đời người. Các ngôi chùa lớn trong Nam, ngoài Bắc như chùa Thầy, chùa Mía, chùa Tây Phương, Hà Nội… đều có điện La Hán đường xây ở hậu chùa. Mỗi chùa tạc các vị tôn gia này theo một phong thái riêng do ý tưởng sáng tạo của mỗi nhà điêu khắc khác nhau.    

Có cảm giác tượng La Hán chùa Bái Đính, cả cũ (vườn tượng bên chùa cũ) và mới được tạc theo một mẫu có sẵn của nước ngoài, vừa thô cứng, vừa ngoại lai một cách cố ý đến phi nghệ thuật, phi niềm tự hào văn hoá Việt! Chúng tôi từng có dịp qua Lào, qua Thái Lan, nhận thấy tượng Phật của Lào rất văn hoá Lào; tượng Phật của người Thái dáng vẻ rất văn hoá Thái. Ngay Nhật Bản, vườn tượng La Hán của họ xem thấy toát lên những sinh hoạt đời sống tinh thần, nội tâm rất rõ, mang tính Nhật Bản khá cao. Còn tượng La Hán chùa Bái Đính do người Việt Nam “sáng tạo” mà không mang hồn Việt, đời sống, tinh thần Việt thì… cũng xin “bái vọng” các nhà tác tượng, cả những người xây dựng chùa!

Người Việt tạc tượng cho người Việt, cho văn hoá Việt, để lưu giữ cho các đời sau thờ phụng, cúng lễ thì hồn cốt, thần thái phải mang tinh thần Việt. Các sinh hoạt đời sống, nội tâm con người Việt bốn ngàn năm dựng nước, giữ nước không đáng được “đặc tả” vào các vị La Hán ở đây sao? Một đất nước có lịch sử hàng nghìn năm theo đạo Phật, hàng vạn nhà sư hy sinh cuộc đời nơi cửa Phật, cho các cuộc đấu tranh giải phóng khỏi ách thống trị phong kiên, thực dân họ đáng được tôn La Hán lắm chứ.  Đình, chùa, tượng Thánh, tượng Phật, nói chung đều là những sáng tác nghệ thuật; đã là nghệ thuật, sáng tạo nghệ thuật thì hình mẫu ấy phải là những vị có công với dân với nước, được nhân dân tôn kính, họ chẳng đáng là thánh, là Phật, là La Hán hay sao. Người xưa có câu: “Để là hòn đất, cất lên ông bụt” nhưng ông bụt ấy phải mang ý nghĩa giáo dục ra sao cho các thế hệ mai sau mới phải đạo. Trường hợp bức tượng đức ông ở chùa Bộc Hà Nội chẳng hạn. Khi nhà Nguyễn lật đổ được nhà Tây Sơn, họ đã trả thù rất nhỏ mọn,sai đào và san phẳng mộ Nguyễn Huệ và Nguyễn Nhạc tán hài cốt thành bột nhồi thuốc súng bắn và bỏ xương sọ vào vò, giam cầm trong ngục tối…” nhưng nhân dân lại lén tạc tượng Quang Trung để thờ, ẩn ý vào tượng đức ông đặt ngay sát gò Đống Đa để ghi nhớ người có công đánh tan 20 vạn giặc Thanh.  Vậy mà giờ đây xây một khu chùa lớn như Bái Đính lại đi bê nguyên xi mẫu tượng của nước ngoài về làm của mình, khắc tên ông nọ bà kia trước bệ tượng, toàn những cái tên lạ hoắc, những người không am hiểu đạo Phật biết đó là ai, vị đó có công đức gì với nước Việt, dân Việt? Làm vậy không sợ, bây giờ và cả mai sau con cháu chiêm ngắm, “tín ngưỡng” bị lệch kênh thẩm mỹ đi ư? Phật tại tâm, người có công với dân với nước được nhân dân quý trọng, kính phục về tài năng, nhân cách thì nhân dân coi người đó là Phật, là thánh; kể cả những bà mẹ đôn hậu thuỷ chung, những người cha hiền từ, dũng cảm…

Đạo Phật ở Việt Nam là do chính các nhà truyền giáo Ấn Độ, tay chống thiền trượng, vai khoác hành trang đến chùa Dâu Việt Nam tu hành và truyền đạo gốc Ấn Độ vào, nước ta bắt đầu thờ Phật từ đấy. Truyền thuyết thánh mẫu Man Nương là một ví dụ. Đâu phải do những thái thú, toàn quyền người Tàu mang đạo Phật sang thời họ cai trị nước ta mà nhầm tưởng đi tạc tượng theo mẫu “mã” của Tàu?  

Đước biết, các nhà xây dựng chùa Bái Đính, khi tác tượng La Hán đã dùng tập sách “Ngũ Bách La Hán” bằng tiếng Trung Quốc do Nhà xuất bản Yên Sơn, Bắc Kinh phát hành năm 1991, để làm mẫu tạc?! Chao ôi! Cứ mãi tình trạng này thì đến bao giờ nghệ thuật Việt, tâm hồn Viết mới lớn lên được để mà hội nhập với văn hoá Năm Châu bốn biển? Làm nghệ thuật cho muôn đời với cái tư duy ăn đong, vay mượn vậy không sợ con cháu mai sau nghĩ sai lệch đi hay sao? Cho đến giờ còn chưa muốn thoát khỏi cái vòng Kim Cô lệ thuộc văn hoá ngoại?

Xin mọi nhà xem một vài bức ảnh La Hán chùa Bái Đính dưới đây để thấy, và so sánh với ảnh vườn tượng Nhật Bản do hoà thượng Thích Giác Toàn chụp đem từ Nhật Bản đăng trên trang web:

http://daitangkinhvietnam.org/

 

 

SDC10347.JPG src=http://seablogs.zenfs.com/u/O.UHnIaQGRQ23mDE1gqbTJv8/photo/ap_20110716094146397.jpg

SDC10344.JPG src=http://seablogs.zenfs.com/u/O.UHnIaQGRQ23mDE1gqbTJv8/photo/ap_20110716094333347.jpg

SDC10398.JPG src=http://seablogs.zenfs.com/u/O.UHnIaQGRQ23mDE1gqbTJv8/photo/ap_20110716094818651.jpg

Tượng La Hán trong hành lang chùa Bái Đính mới

SDC10323.JPG src=http://seablogs.zenfs.com/u/O.UHnIaQGRQ23mDE1gqbTJv8/photo/ap_20110716093355679.jpg

Vườn tượng La Hán chùa Bái Đính cũ

Bài và ảnh - haixuanhxh

=========================

Ba bức ảnh dưới đây là tượng La Hán Nhật Bản


Sáng nay giáo thọ nghĩ rồi
Đệ huynh đàm đạo bên trời tự do


Lợi danh...quăng bỏ bên đường
Ta vui đùa với...ểnh ương nhái mèn

Những lời Phật dạy trong kinh
Hành thâm Bát Nhã ...tử sinh đâu còn

                  *****

 

Bấm vào dưới đấy để xem toàn bộ ảnh vườn tượng La Hán Nhật Bản của HT. Thích Giác Toàn:

http://www.arowana.com.vn/forum/f44/vuon-tuong-la-han-nhat-ban-59692.html


Chùm thơ ba kâu viết trong tháng 7

Published on 09:10, 07/17,2011

U…

Mô đá – và ta

ai là…

mô đá?

 

alt

U…

Hạt sương

treo ngọn cỏ

thu nhỏ bầu trời

U…

Một vành trăng khuyết

một làn gió the

lay gầy bóng tre

                                 HXH


Thơ Lữ Thị Mai nhưng nhức nỗi buồn thế hệ

Published on 11:10, 07/09,2011

                                                             alt src=http://vanchuongviet.org/vietnamese/hinhanh/201178_181312_luthimai-bia.jpg                     

alt

   

(Đọc Giấc của Lữ Thị Mai)

Tập thơ Giấc của Lữ Thị Mai ngay từ khi ấn hành (12 – 2010) đã được giới thiệu như một hiện tượng thơ của năm 2010. Thống kê được đến 18 bài đăng trên các trang web trong Nam ngoài Bắc, cả vài trang ở rất xa cũng thấy họ post giới thiệu lại vài ba chùm. Chắc đây phải là tập thơ hay. Ấy là khi lướt xem thơ Lữ Thị Mai trên mạng internet tôi trộm nghĩ vậy. Mãi gần đây tôi mới có tập thơ Giấc trong tay để đọc trọn 35 bài in trong đó. Trái với ngôn ngữ thơ “gai góc” của Du Nguyên (người học cùng khoá), ngôn ngữ thơ Lữ Thị Mai uyển chuyển mềm mại, đằm đằm từ câu mở đầu đến câu kết của mỗi bài:  chiều làm mưa thanh tân/ nhảy nhót trên đường xa xỉ, trên mái tôn chật hẹp tóc buồn…” (hai câu mở đầu)… Và hai câu kết: “em chỉ là hạt mầm cô đơn/ khóc trước sự thành tâm của cỏ” (Mê khúc).

Thơ Mai nhưng nhức nỗi buồn thế hệ. Một thế hệ tưởng được sự “luông chiều” của thời đại, được hưởng sự mát lành, được sống thoải mái trong nhung lụa gấm vóc giữa lòng đất nước đang phát triển giàu có chỉ việc ăn học và sau đó là làm việc để đáp đền lại gia đình và đất nước đã chăm bẵm, nuôi nấng mình nên người. Chợt nghĩ thì đơn giản thế, khi soi mặt vào sông Hồng lại không phải thế: “những bàn tay mọc lên từ ý nghĩ/ muốn vỗ về em trọn giấc thật thà/ mà gió sông Hồng vô chừng quá/ đẩy mặt người trôi xa…” (ngày của sông Hồng).

Hình ảnh con chuồn chuồn, là hình ảnh của những ngày thời tiết đẹp, những ngày bình yên, trong sự tưởng bình yên ấy lại có gì đó không mấy bình yên: “Chú chuồn kim ngủ vùi trên lá cỏ/ mây bỏ đi cùng gió/ còn em với tóc hoe vàng/ có con đường dụ bước lang thang/ lúc niềm tin bỏ ngỏ/ gió chẳng còn là gió/ nắng qua thềm tựa cột thoát y…(ngày bình yên).

“bữa tiệc mùa thu” ngỡ đó là một bữa tiệc vui ngày tựu trường, hoặc bữa tiệc tạm chia tay bạn bè sau mỗi năm học, nghỉ hè… nhưng hoá ra đó là bữa tiệc: “mỗi người góp một vài chuyện cũ/ chạm chén leng keng/ giữa hoang lạnh nấm mồ/ đũa bông cười hớn hở/ hoa sữa tan rồi/ nhúm sót lại cuối đường mây trắng/ em chưa vu quy đã thành hoá phụ…”.

Một cách mượn hoa để nói về người, về nội tâm nhiều nghĩ ngợi của mình trước cuộc sống đang phát triển ào ạt, nhanh quá thành lấn át những gì thuộc về truyền thông: “buổi trưa hoa bằng lăng bỗng cũ/ như hoạ tiết nỗi thời/ năm nay váy hoa lên ngôi/ phố dài guốc cao thấp thỏm/ chiếc xe đạp chở nỗi buồn của những cánh đồng/ rao bán dọc phố/ tóc ngắn lơ cài bỏ đi biền biệt/ trên cao môi đỏ hững hờ…” (Hoa trong thành phố).

-“ buổi tối mang tên bình yên

về núp sau lưng người khuất mặt

sự động cựa vẫn chỉ là dự định

chạy rông trong căn phòng

im lặng ứ đầy khát vọng

em lại kể anh nghe về những cơn mơ

bắt đầu bằng cuộc gặp gỡ giữa các bào thai

                                     mồn một hình hài

mà chẳng thể nào siêu thoát

lời thanh minh của cô gái 8x về cái chết của người tình

giọt nước mắt mẹ cha đoản mệnh khóc  đưa con thơ

                                                     bị bạo hành…” 

                                       (Viết sau im lặng).                                                                                                   Gần đây tôi hay mò mẫm trên trên mạng đọc thơ thế hệ cuối 8x tôi có cảm giác… nói chung là họ buồn, phơi ra những ngóc ngách của trái tim buồn. Chẳng hiểu sao họ lại buồn đến vậy? Ở vào tuổi như họ, thế hệ chúng tôi cắp sách đứng chờ tàu điện, thậm chí đi bộ tới trường nhưng chúng tôi đâu có buồn đến vậy? Ngay cả khi ra trận, đi vào nơi bom đạn miệng vẫn toang toang hát những khúc ca hào khí. Có lẽ ngày đó chúng tôi không có sự so sánh gì nhiều về cuộc sống giữa sang giầu và nghèo hèn, nông thôn và thành thị… chẳng lẽ bây giờ thi ca nhiều bức xúc đến thế này sao: “bầu trời thả xuống ban ân huệ/ trêu ngươi những kẻ khát thèm/ có một mặt người/ chong đêm/ mọc trên chiếc dây đàn hồi/ ùn tắc âu lo vụn vặt/ giấc mơ quả lắc/ đánh đồng ám ảnh thời gian/ kéo mặt trăng gần lại mặt người/ lấp láp nếp nhàu vô nghĩa…” (giấc mơ quả lắc).

“Cá vàng” cũng là một bài thơ gợi với nhiều trăn trở, trăn trở thế hệ: “trong chiếc bể toàn rong rêu giả tạo/ cả sóng cũng giả tạo/ ngày lại ngày/ cá vàng giương vây bơi cho thoả giấc mơ ảo giác/ tôi ngắm nỗi ám ảnh quầng thâm mi mắt/ hình như những con cá thích bể nước hơn cả đại dương (…).

        Sau đây xin được giới thiệu một chùm thơ của Lữ Thị Mai in trong tập Giấc. Chùm thơ dưới đây không nằm trong số mười tám bài mà chúng tôi đã đọc được trên các trang web mà chúng tôi chép đúng hình thức của văn bản gốc.

 

thơ lữ thị mai  

ngụ

thêm đôi lần cởi thắt lưng ban bai

rồi bỏ đi cùng dọc dài lơ đễnh

khuôn ngưc tháng năm sạm khô mất ngủ

buổi sáng nay

ai hiền hơn chú thỏ bông?

 

con hẻm nhỏ cứ như không

nhà cách nhà, người cách người tiếng kêu thấp thỏm

tôi ngồi im góc cũ

chậm rãi nếm vị mặn trên mấy ngón tay

sau một lần đi biển

sau một lần giữa đám đông vụt biến

chiều chẳng thể lạ hơn những buổi chiều

phố hun hút bàn cờ lả lơi váy áo

người người không dám qua đường

nơm nớp sợ những chiếc xe đã giảm ga mà hằn học

                                                   cái nhìn vượt ẩu

kẹt giữa ngã tư

 

đêm đến

trong chiếc lồng ở góc phòng

có tiếng thỏ bông mắt hồng vụng dại

chiếc dây áo màu xanh tôi yêu

ngu ngơ cười trên bờ vai xa lạ.

 

bung

mỗi đêm

tôi lại về phía sau cánh cửa thiêm thiếp

căn phòng hơn chục mét vuông mở ra những khoảng tối

                                                  không cùng

nhiều bông hoa trắng đã quay đi hướng khác

bên góc bàn bỏ quên

bung một lời nguyền

tôi thường về nhà

bằng bước chân vay mượn của kẻ khác

cô gái thất tình

gã đàn ông say

đưa trẻ lang thang vé số…

bước chân không hợp chủ

ngồn ngột bung khỏi đề giầy

 

trốn chạy

cái nhìn vuốt lưng

bần bật chiếc khuy buồn rạn nứt

hoang mang cơn hát

bung cái nhìn quẩn quanh

đoá quỳnh hương thèn thẹn

này thao thức

này chờ mong

(giấc mơ không về trên cánh hoa mong manh)

Phím ngay lãng quên

Bung từng nốt nhớ

 

Ngoài vườn

có tiếng chim đêm

khàn khạn hót…

 

trầm cảm

những dấu chân của tôi đi đâu?

sự im lặng sao mà tội nghiệp

giữa giọng nói quen, nhiều mặt người quen

quy lưng với nhau làm sao biết được

 

đêm tối u mê

nước mắt bỏ đi rồi

tiếng cười ủ ê lợm giọng

… khe khẽ nói về điều bí mật!

 

còn đọng vài câu thơ

mang máng chảy nơi nào

trước nỗi đau ước mình nhỏ lại

con kiến lang thang khu vườn bàn tay

 

nhân gian ngõ tối đứng chờ nhau

ta trút bỏ tinh khôi trống vắng

trả lại mùa thu vòng hoa niên bí mật

 

bỗng thấy mình hoà tan đầy ngộ nhận.

                                   LTM

 

 

Trích trong tập Giấc – NXB Hội Nhà văn – 2010 

Hoàng Xuân Hoạ giới thiệu

Trang web Văn Chương Việt đăng cùng ngày:

http://www.vanchuongviet.org/vietnamese/vanhoc_tacpham.asp?TPID=16230&LOAIID=28&LOAIREF=1&TGID=1898

http://vn.360plus.yahoo.com/haixuanhxh/article?mid=4405&prev=-1&next=4389

http://vanhac.org/07/nhung-nhuc-noi-buon-the-he.html


Chùm thơ ba Kâu viết trong tháng 6

Published on 05:15, 07/06,2011

&.

Giọt nước mắt

hòa vào biển

nhạt tanh

 

&.

Đàn rồng rồng

quấn nhau

nát ao bèo tấm

 

&.

Mây xanh

nhử mồi

bắt tép

 

&.

Mây lơ lớ bay

sông cồn cào sóng

cong ngọn tre gầy

 

&.

Tiếng guốc

gõ ngực đêm

tan mộng

 

&.

Đêm gã xuống sông

nước toé tung

trăng vỡ

 

&.

Gió mây

bâu đầy chóp nón

lập loè trăng

 

&.

Chè Suối Giàng

mang mang hương nắng

ngọt môi trăng

 

&.

Mẹ bắc cầu dải yếm

đón người yêu sang nhà

đóng cửa phòng con khóc

                    HXH


1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13  Sau»